GS.TS.BS Văn Tần (ảnh thiết kế dựa trên ảnh tư liệu)
Vị bác sĩ tạo dấu ấn trong lịch sử ngoại khoa Việt Nam, góp mặt trong ca mổ chấn động thế giới
Đây là vị bác sĩ đứng sau những ca mổ làm nên dấu mốc của ngoại khoa Việt Nam. Vị bác sĩ đó là ai?
Đó chính là GS.TS.BS Văn Tần.
GS.TS.BS Văn Tần (1932–2023) tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm 1964 và bắt đầu con đường gắn bó với ngành ngoại khoa. Năm 1972, ông về công tác tại Bệnh viện Bình Dân, TP.HCM. Từ đây, bệnh viện trở thành nơi ông dành phần lớn sự nghiệp của mình.
Theo tư liệu của Bệnh viện Bình Dân, GS Văn Tần có 53 năm kinh nghiệm khám, chữa bệnh. Ông đã thực hiện hơn 30.000 ca phẫu thuật, đồng thời có hơn 300 công trình nghiên cứu và 10 đầu sách chuyên ngành.
Ông được tôn vinh là bác sĩ phẫu thuật động mạch giỏi nhất Việt Nam, phẫu thuật gan đứng tốp đầu trong cả nước và là bác sĩ Việt Nam đầu tiên thực hiện phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm ngực, phẫu thuật phình động mạch chủ bụng…
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với ngoại khoa, ông để lại dấu ấn qua hàng chục nghìn ca phẫu thuật, hàng trăm công trình nghiên cứu và nhiều thế hệ học trò. Trong hành trình ấy, ca phẫu thuật tách cặp song sinh dính liền Nguyễn Việt – Nguyễn Đức năm 1988 là một trong những dấu mốc đặc biệt.
Ông là phẫu thuật viên chính của ca mổ huyền thoại tách cặp song sinh dính nhau phần xương chậu, có hai chân và một chân cụt là Nguyễn Việt và Nguyễn Đức tại Bệnh viện Từ Dũ, cùng Giáo sư Trần Đông A, Trần Thành Trai...
Ca mổ trở thành mốc son trong lịch sử y học Việt Nam, không chỉ cứu sống được bệnh nhân mà còn thay đổi cách nhìn của thế giới về y học Việt Nam.
Đối với GS Văn Tần, ca mổ Việt – Đức là một trong những dấu ấn nổi bật của sự nghiệp, bên cạnh hàng chục nghìn ca phẫu thuật mà ông đã trực tiếp thực hiện trong nhiều thập niên.
Những nghiên cứu và cải tiến kỹ thuật của ông cũng được báo cáo tại nhiều diễn đàn chuyên môn trong nước và quốc tế, góp phần đưa những kinh nghiệm thực tiễn từ phòng mổ đến với cộng đồng chuyên môn.
Một đời làm nghề trong im lặng
Những năm cuối đời, GS Văn Tần vẫn giữ thói quen đến bệnh viện từ rất sớm.
Bệnh viện Bình Dân từng ghi lại hình ảnh ông có mặt tại bệnh viện từ khoảng 5 giờ sáng để khám bệnh. Ở tuổi cao, ông vẫn quan tâm đến những ca bệnh khó, trao đổi với đồng nghiệp và truyền lại kinh nghiệm cho thế hệ trẻ.
Với nhiều học trò, điều đáng nhớ ở người thầy không chỉ là kiến thức chuyên môn mà còn là cách ông tiếp cận người bệnh.
Ngoại khoa đòi hỏi sự chính xác và quyết đoán. Nhưng phía sau mỗi quyết định trong phòng mổ luôn là một người bệnh và một gia đình đang đặt niềm tin vào bác sĩ.
Trong suốt sự nghiệp, GS Văn Tần dành nhiều thời gian cho công việc điều trị và đào tạo. Những kinh nghiệm được ông tích lũy qua hàng chục năm làm nghề tiếp tục được truyền lại cho các thế hệ bác sĩ sau này.
PGS.TS Nguyễn Hoài Nam, một trong những học trò của ông, từng viết về GS Văn Tần như một người thầy nhân hậu. Những ký ức từ học trò và đồng nghiệp góp thêm một góc nhìn về vị giáo sư: phía sau những ca mổ lớn là một người thầy gần gũi với người bệnh, tận tâm với nghề và dành nhiều tâm huyết cho đào tạo.
Với những đóng góp của ông cho nền y học nước nhà, năm 2006, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Nguồn: Vị bác sĩ tạo dấu ấn trong lịch sử ngoại khoa Việt Nam, góp mặt trong ca mổ chấn động thế giới
Vị Phó giáo sư Việt Nam được giới y khoa Pháp, Mỹ nể phục: Ca mổ gây chấn động thế giới
Vị Phó giáo sư giúp Việt Nam vang danh trên bản đồ y học thế giới đó là ai?
Chính là: PGS.VS.TS Tôn Thất Bách.
PGS Tôn Thất Bách sinh năm 1946, là con trai duy nhất của GS.BS Tôn Thất Tùng - người được biết đến rộng rãi với những đóng góp đặc biệt cho ngành phẫu thuật gan và kỹ thuật cắt gan.
Ngay từ khi còn trẻ, PGS Tôn Thất Bách đã được tiếp cận với môi trường phẫu thuật đỉnh cao. Ông từng là người trợ thủ, cộng tác viên của cha và được truyền lại những kỹ thuật phẫu thuật khó. Nhưng con đường chuyên môn của ông không dừng lại ở việc kế thừa di sản gia đình.
PGS Tôn Thất Bách phát triển mạnh ở nhiều lĩnh vực ngoại khoa, đặc biệt là phẫu thuật gan - mật và tim mạch. Báo Nhân Dân từng đánh giá ông là người kế tục xuất sắc sự nghiệp của cha trong lĩnh vực cắt gan, đồng thời là một phẫu thuật viên nổi tiếng về gan, mật và thay van tim.
Một trong những dấu mốc được nhắc đến trong sự nghiệp của ông là ca cắt gan phải cho một bệnh nhân ung thư gan đã vỡ vào năm 1973.
PGS.VS.TS Tôn Thất Bách
Từ nền tảng kỹ thuật được truyền lại, PGS Tôn Thất Bách tiếp tục làm chủ và thực hành thành thục phương pháp cắt gan. Theo lời kể của TS.BS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (một học trò của ông), PGS Tôn Thất Bách từng thực hiện kỹ thuật “cắt gan khô” với tốc độ rất nhanh.
“Tên tuổi của Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức gắn với thầy Tùng và thầy Bách rất đậm nét. Kỹ thuật mổ gan khô là một sáng tạo của thầy Tùng trong phẫu thuật gan đã được thế giới công nhận. Và sau đó, thầy Bách đã thực hiện không những thành thục, mà còn rút ngắn được thời gian cắt gan đến mức kỷ lục, tức là chỉ cần 2 - 3 phút mà thôi”, TS.BS Dương Đức Hùng nói.
PGS Tôn Thất Bách cũng từng giới thiệu kỹ thuật này với các đồng nghiệp ở nhiều nước như Nga, Pháp, Italy và Mỹ. Trong những năm ông làm Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội, các ca bệnh khó về gan, sỏi mật trong gan hay tim mạch tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vẫn thường mời ông trực tiếp tham gia.
Bác sĩ phẫu thuật tim tài ba
Một phần quan trọng khác trong sự nghiệp của PGS Tôn Thất Bách là phẫu thuật tim mạch. Ông đã tham gia và đi đầu trong việc triển khai nhiều kỹ thuật phẫu thuật tim mạch tại Việt Nam, từ phẫu thuật bắc cầu mạch vành, phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh, phẫu thuật van tim đến phẫu thuật động mạch chủ và phồng động mạch chủ bụng.
Trong đó, những ca thay van tim là một dấu ấn đáng chú ý. Năm 1978, ông thực hiện thành công ca phẫu thuật thay van tim gây chấn động giới khoa học trong và ngoài nước. Những đóng góp của PGS Tôn Thất Bách không chỉ được ghi nhận trong nước.
Ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Phẫu thuật Paris năm 1998, một trong những danh hiệu quốc tế nổi bật trong sự nghiệp của ông.
Năm 1999, ông trở thành Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học New York.
Ông cũng được trao các bằng tiến sĩ danh dự, trong đó có Đại học Y khoa Lille (Pháp) năm 1998 và Đại học Odessa (Ukraine) năm 2001.
Bên cạnh đó, ông là thành viên của Hội Ngoại khoa Quốc tế.
Ở trong nước, ông được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú năm 1992, Nhà giáo Nhân dân năm 2000, cùng Huân chương Lao động hạng Ba và nhiều phần thưởng khác.
Ông từng giữ nhiều vị trí quan trọng: Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và đại biểu Quốc hội.
Nguồn: Vị Phó giáo sư Việt Nam được giới y khoa Pháp, Mỹ nể phục: Ca mổ gây chấn động thế giới
Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026
Vị bác sĩ tạo dấu ấn trong lịch sử ngoại khoa Việt Nam, góp mặt trong ca mổ chấn động thế giới
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)





































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn