Trung tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, quê ở Hưng Yên, hiệu trưởng đầu tiên Trường Quân chính Miền Đông là ai?
Trung tướng Nguyễn Bình, quê Hưng Yên, là vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông cũng là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng cử vào Nam Bộ chỉ huy kháng chiến và là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quân chính Miền Đông.
Trung tướng Nguyễn Bình - Vị tướng từng làm nghề thuỷ thủ, mở tiệm giặt ủi
Trung tướng Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 30/7/1908 tại thôn Yên Phú, xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên cũ.
Từ nhỏ, ông đã được gia đình tạo điều kiện học tập tại Hải Phòng. Đây cũng là môi trường giúp Nguyễn Phương Thảo sớm tiếp xúc với nhiều trí thức và những tư tưởng tiến bộ. Đặc biệt, thông qua các hoạt động của người anh trai Nguyễn Thế Nức - một trí thức yêu nước, tham gia sáng lập Hội Trí Tri và Hội Dục Anh, ông có cơ hội mở rộng hiểu biết, từng bước hình thành tinh thần yêu nước và ý thức dấn thân vào các hoạt động xã hội.
Năm 1925, khi mới 17 tuổi, ông bị đuổi học vì tham gia vận động học sinh Trường Kỹ nghệ Hải Phòng bãi khóa, phản đối chính sách hà khắc của thực dân Pháp và tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Rời trường học, Nguyễn Phương Thảo làm thủy thủ trên tàu viễn dương của Pháp, hoạt động trên tuyến Sài Gòn - Marseille. Sau một thời gian, ông bỏ nghề thủy thủ, về sinh sống tại Khánh Hội, Gia Định, nay thuộc Quận 4, TPHCM, rồi mở một tiệm giặt ủi tại Đa Kao.
Chính trong thời gian này, Nguyễn Phương Thảo kết thân với Trần Huy Liệu. Qua sự giới thiệu của Trần Huy Liệu, năm 1928 ông gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng và sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Xứ bộ của tổ chức này.
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, Nguyễn Phương Thảo cùng Trần Huy Liệu bị thực dân Pháp bắt giữ. Tòa đại hình Sài Gòn kết án ông 6 năm tù và đày ra Côn Đảo.
Những năm tháng trong nhà tù thực dân trở thành bước ngoặt lớn đối với con đường chính trị của Nguyễn Phương Thảo. Tại Côn Đảo, ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều chiến sĩ cộng sản như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang, tức Hoàng Quốc Việt. Từ những cuộc tiếp xúc này, ông từng bước giác ngộ cách mạng và chuyển hướng sang lý tưởng cộng sản.
Sự thay đổi về tư tưởng của Nguyễn Phương Thảo và Trần Huy Liệu khiến hai người bị nhóm cực hữu trong Việt Nam Quốc dân đảng kết án tử hình. Cả hai thoát chết, nhưng Nguyễn Phương Thảo bị đâm và mất một mắt.
Năm 1935, sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Phương Thảo bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi Sài Gòn và đưa về quản chế tại Hải Phòng. Cũng từ giai đoạn này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, gửi gắm ước vọng “bình thiên hạ”, đồng thời chính thức tuyên bố ly khai khỏi Việt Nam Quốc dân đảng.
Nguyễn Bình - Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Bình tiếp tục bí mật tham gia phong trào cách mạng.
Năm 1942, ông trốn khỏi nhà tù, gặp lại Hoàng Quốc Việt và được giao lên Lai Châu hoạt động.
Từ năm 1944, địa bàn hoạt động của Nguyễn Bình được mở rộng từ Hà Nội, Hải Phòng đến Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ông là tìm mua vũ khí, xây dựng cơ sở Việt Minh và chuẩn bị lực lượng cho cách mạng.
Nguyễn Bình còn liên hệ với Lê Phú, một người bạn làm thủy thủ trên tàu Pháp, để tổ chức mua súng đạn. Song song với việc tìm kiếm nguồn vũ khí, ông tích cực vận động sĩ quan và binh lính trong quân đội Nhật chuyển hướng ủng hộ cách mạng. Hoạt động binh vận và gây dựng nguồn vũ khí của Nguyễn Bình được Xứ ủy Bắc Kỳ đánh giá cao.
Tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Bình trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng du kích đánh chiếm đồn Bần Yên Nhân, bắt toàn bộ trung đội đối phương và thu nhiều vũ khí. Trận đánh gây tiếng vang lớn và sau này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là một “trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ”.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Bình cùng Sư Tuệ, tức Nguyễn Văn Tuệ, bàn bạc việc xây dựng Chiến khu Đông Triều. Lực lượng nhân dân và du kích tại đây đã chủ động tiến công các vị trí của đối phương ngay cả khi chưa nhận được chỉ thị khởi nghĩa.
Ngày 8/6/1945, cùng với các cuộc tiến công vào đồn Tràng Bạch và Mạo Khê, Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng đánh chiếm đồn Đông Triều, giải tán binh lính, đồng thời kêu gọi họ trở về tham gia cách mạng chống Nhật. Chính quyền tay sai tại Đông Triều bị giải tán, các kho thóc của Nhật được phá để cứu đói cho nhân dân.
Chiều cùng ngày, Chiến khu Đông Triều chính thức được thành lập. Ủy ban Quân sự cách mạng gồm Nguyễn Bình, Trần Cung, Nguyễn Hiển và Hải Thanh. Dù được phân công phụ trách kinh tế, Nguyễn Bình vẫn trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu, mở rộng địa bàn và phạm vi hoạt động của chiến khu.
Ngày 20/7/1945, Nguyễn Bình tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang hỗ trợ quần chúng đánh chiếm tỉnh lỵ, giải phóng Quảng Yên. Theo tài liệu, đây là tỉnh duy nhất được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám.
Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Bình tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại Hải Phòng, Đồ Sơn, Kiến An và Hải Dương. Sau khi Ủy ban Quân sự liên tỉnh miền Duyên hải Đông Bắc được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh Chiến khu Đông Triều, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám tại vùng duyên hải Đông Bắc.
Từ trái qua: Đ/c Huỳnh Văn Nghệ, Đ/c Lê Duẩn, Trung tướng Nguyễn Bình và Đ/c Dương Quốc Chính ở Chiến khu Đ. Ảnh: Tư liệu.
Trung tướng Nguyễn Bình, quê Hưng Yên, là vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông cũng là người được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng cử vào Nam Bộ chỉ huy kháng chiến và là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Quân chính Miền Đông.
Trung tướng Nguyễn Bình - Vị tướng từng làm nghề thuỷ thủ, mở tiệm giặt ủi
Trung tướng Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, sinh ngày 30/7/1908 tại thôn Yên Phú, xã Tịnh Tiến, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên cũ.
Từ nhỏ, ông đã được gia đình tạo điều kiện học tập tại Hải Phòng. Đây cũng là môi trường giúp Nguyễn Phương Thảo sớm tiếp xúc với nhiều trí thức và những tư tưởng tiến bộ. Đặc biệt, thông qua các hoạt động của người anh trai Nguyễn Thế Nức - một trí thức yêu nước, tham gia sáng lập Hội Trí Tri và Hội Dục Anh, ông có cơ hội mở rộng hiểu biết, từng bước hình thành tinh thần yêu nước và ý thức dấn thân vào các hoạt động xã hội.
Năm 1925, khi mới 17 tuổi, ông bị đuổi học vì tham gia vận động học sinh Trường Kỹ nghệ Hải Phòng bãi khóa, phản đối chính sách hà khắc của thực dân Pháp và tổ chức lễ truy điệu nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Rời trường học, Nguyễn Phương Thảo làm thủy thủ trên tàu viễn dương của Pháp, hoạt động trên tuyến Sài Gòn - Marseille. Sau một thời gian, ông bỏ nghề thủy thủ, về sinh sống tại Khánh Hội, Gia Định, nay thuộc Quận 4, TPHCM, rồi mở một tiệm giặt ủi tại Đa Kao.
Chính trong thời gian này, Nguyễn Phương Thảo kết thân với Trần Huy Liệu. Qua sự giới thiệu của Trần Huy Liệu, năm 1928 ông gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng và sau đó được bầu vào Ban Chấp hành Xứ bộ của tổ chức này.
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, Nguyễn Phương Thảo cùng Trần Huy Liệu bị thực dân Pháp bắt giữ. Tòa đại hình Sài Gòn kết án ông 6 năm tù và đày ra Côn Đảo.
Những năm tháng trong nhà tù thực dân trở thành bước ngoặt lớn đối với con đường chính trị của Nguyễn Phương Thảo. Tại Côn Đảo, ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều chiến sĩ cộng sản như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang, tức Hoàng Quốc Việt. Từ những cuộc tiếp xúc này, ông từng bước giác ngộ cách mạng và chuyển hướng sang lý tưởng cộng sản.
Sự thay đổi về tư tưởng của Nguyễn Phương Thảo và Trần Huy Liệu khiến hai người bị nhóm cực hữu trong Việt Nam Quốc dân đảng kết án tử hình. Cả hai thoát chết, nhưng Nguyễn Phương Thảo bị đâm và mất một mắt.
Năm 1935, sau khi mãn hạn tù, Nguyễn Phương Thảo bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi Sài Gòn và đưa về quản chế tại Hải Phòng. Cũng từ giai đoạn này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, gửi gắm ước vọng “bình thiên hạ”, đồng thời chính thức tuyên bố ly khai khỏi Việt Nam Quốc dân đảng.
Nguyễn Bình - Trung tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Bình tiếp tục bí mật tham gia phong trào cách mạng.
Năm 1942, ông trốn khỏi nhà tù, gặp lại Hoàng Quốc Việt và được giao lên Lai Châu hoạt động.
Từ năm 1944, địa bàn hoạt động của Nguyễn Bình được mở rộng từ Hà Nội, Hải Phòng đến Hưng Yên, Đông Triều, Quảng Yên, Hòn Gai. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của ông là tìm mua vũ khí, xây dựng cơ sở Việt Minh và chuẩn bị lực lượng cho cách mạng.
Nguyễn Bình còn liên hệ với Lê Phú, một người bạn làm thủy thủ trên tàu Pháp, để tổ chức mua súng đạn. Song song với việc tìm kiếm nguồn vũ khí, ông tích cực vận động sĩ quan và binh lính trong quân đội Nhật chuyển hướng ủng hộ cách mạng. Hoạt động binh vận và gây dựng nguồn vũ khí của Nguyễn Bình được Xứ ủy Bắc Kỳ đánh giá cao.
Tháng 3/1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Bình trực tiếp tổ chức và chỉ huy lực lượng du kích đánh chiếm đồn Bần Yên Nhân, bắt toàn bộ trung đội đối phương và thu nhiều vũ khí. Trận đánh gây tiếng vang lớn và sau này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá là một “trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ”.
Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nguyễn Bình cùng Sư Tuệ, tức Nguyễn Văn Tuệ, bàn bạc việc xây dựng Chiến khu Đông Triều. Lực lượng nhân dân và du kích tại đây đã chủ động tiến công các vị trí của đối phương ngay cả khi chưa nhận được chỉ thị khởi nghĩa.
Ngày 8/6/1945, cùng với các cuộc tiến công vào đồn Tràng Bạch và Mạo Khê, Nguyễn Bình chỉ huy lực lượng đánh chiếm đồn Đông Triều, giải tán binh lính, đồng thời kêu gọi họ trở về tham gia cách mạng chống Nhật. Chính quyền tay sai tại Đông Triều bị giải tán, các kho thóc của Nhật được phá để cứu đói cho nhân dân.
Chiều cùng ngày, Chiến khu Đông Triều chính thức được thành lập. Ủy ban Quân sự cách mạng gồm Nguyễn Bình, Trần Cung, Nguyễn Hiển và Hải Thanh. Dù được phân công phụ trách kinh tế, Nguyễn Bình vẫn trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu, mở rộng địa bàn và phạm vi hoạt động của chiến khu.
Ngày 20/7/1945, Nguyễn Bình tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang hỗ trợ quần chúng đánh chiếm tỉnh lỵ, giải phóng Quảng Yên. Theo tài liệu, đây là tỉnh duy nhất được giải phóng trước Cách mạng Tháng Tám.
Trong những ngày Tổng khởi nghĩa, Nguyễn Bình tham gia lãnh đạo giành chính quyền tại Hải Phòng, Đồ Sơn, Kiến An và Hải Dương. Sau khi Ủy ban Quân sự liên tỉnh miền Duyên hải Đông Bắc được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh Chiến khu Đông Triều, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám tại vùng duyên hải Đông Bắc.
Từ trái qua: Đ/c Huỳnh Văn Nghệ, Đ/c Lê Duẩn, Trung tướng Nguyễn Bình và Đ/c Dương Quốc Chính ở Chiến khu Đ. Ảnh: Tư liệu.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Nam Bộ nhanh chóng trở thành chiến trường đặc biệt phức tạp khi thực dân Pháp tìm cách quay trở lại xâm lược Việt Nam. Trong bối cảnh các lực lượng vũ trang tại đây còn phân tán, tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng cử Nguyễn Bình vào Nam tổ chức và chỉ huy cuộc kháng chiến.
Theo tài liệu, khi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định Nam Bộ cần một người chỉ huy có khả năng tập hợp các lực lượng vũ trang, tránh nguy cơ phân tán như tình trạng “Thập nhị sứ quân”. Người được lựa chọn phải vừa hiểu miền Nam, vừa có bản lĩnh tập hợp, thu phục nhiều lực lượng khác nhau. Trọng trách đó được giao cho Nguyễn Bình.
Đây là một quyết định đặc biệt bởi thời điểm được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách vào Nam, Nguyễn Bình vẫn chưa phải là Đảng viên Đảng cộng sản. Tuy nhiên, thực tế sau đó cho thấy ông đã đáp lại sự tin tưởng bằng năng lực tổ chức, chỉ huy và khả năng tập hợp lực lượng trong một hoàn cảnh hết sức phức tạp.
Theo các tài liệu ghi chép: Đến gặp Bác Hồ tại Bắc Bộ Phủ, hai bên đã trao đổi về tình hình cách mạng Nam Bộ, Bác nói:
“Bác nghĩ rằng các lực lượng vũ trang trong đó đang cần một chỉ huy tài năng để tập hợp cán bộ địa phương lại, nếu không sẽ có thể xẩy ra nạn thập nhị sứ quân rất tai hại trong lúc này. Người chỉ huy đó phải biết rõ miền Nam, lại phải là một người có đủ bản lĩnh thu hút những tay giang hồ kiểu Bình Xuyên. Chú có thể đảm nhận được vai trò đó không?”
Nguyễn Bình trả lời: “Bác đã tín nhiệm cháu, cháu xin nhận”.
Ngay sau khi vào Nam Bộ, ngày 22/10/1945, Nguyễn Bình ban hành Thông cáo số 1 gửi nhân dân Nam Bộ, khẳng định cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến của toàn dân, không phân biệt tuổi tác hay giới tính. Ông kêu gọi nhân dân đồng lòng chiến đấu, không cộng tác với đối phương, thực hiện “vườn không nhà trống” và tận dụng mọi phương tiện có thể để chống giặc.
Thông điệp chủ đạo của bản thông cáo là tinh thần quyết chiến, quyết thắng và huy động sức mạnh của toàn dân vào cuộc kháng chiến.
Không dừng lại ở lời kêu gọi, Nguyễn Bình nhanh chóng bắt tay vào giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất của Nam Bộ khi ấy: thống nhất các lực lượng vũ trang đang hoạt động tương đối phân tán.
Ngày 20/11/1945, với tư cách phái viên của Chính phủ Trung ương, Nguyễn Bình mời chỉ huy các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ về họp tại An Phú Xã. Hội nghị dưới sự chủ trì của ông thống nhất tổ chức các đơn vị thành những chi đội và bầu Nguyễn Bình làm Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ.
Việc ban hành Thông cáo số 1 cùng những nỗ lực thống nhất các lực lượng vũ trang có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến. Không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân và lực lượng vũ trang, những bước đi này còn góp phần hạn chế tình trạng cát cứ, tạo cơ sở để tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ chặt chẽ và thống nhất hơn.
Ngày 12/12/1945, Nguyễn Bình quyết định thành lập Trường Quân chính Miền Đông và trực tiếp đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng đầu tiên. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/1945 đến tháng 4/1946, trường tổ chức hai khóa học đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, đào tạo hơn 100 cán bộ.
Nhiều học viên sau đó trở thành cán bộ lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến tại các địa phương ở Đông Nam Bộ. Nguyễn Bình còn trực tiếp đưa một số cán bộ theo dòng người hồi cư trở lại Sài Gòn để hoạt động bí mật. Trong dịp này, ông để lại câu nói nổi tiếng: “Các đồng chí về thành, rừng người bảo vệ các đồng chí còn tốt hơn rừng cây”.
Nguyễn Bình đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Nhận thấy các phân đội còn hạn chế về tổ chức, ngày 6/1/1946, ông triệu tập chỉ huy các chi đội và những phân đội vũ trang tự lập để bàn việc thống nhất lực lượng.
Hội nghị quyết định tổ chức các đơn vị này dưới tên chung là Ban Công tác thành, vừa đảm nhiệm nhiệm vụ chiến đấu, vừa tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến trong nội thành. Đây được coi là tiền thân của lực lượng vũ trang biệt động Sài Gòn sau này.
Tháng 6/1946, Nguyễn Bình được Trung ương Đảng phê chuẩn kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hành trình chính trị của ông vì thế có nhiều nét đặc biệt: từ một thanh niên yêu nước, từng tham gia Việt Nam Quốc dân đảng, trải qua những năm tháng tù đày rồi chuyển sang con đường cách mạng cộng sản; trực tiếp tham gia tổ chức khởi nghĩa ở miền Bắc, nhận trọng trách vào chỉ huy kháng chiến tại Nam Bộ và sau đó mới chính thức trở thành đảng viên.
Uy tín, tinh thần yêu nước cùng khả năng tổ chức và chỉ huy của Nguyễn Bình tạo ảnh hưởng lớn đối với nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Ông thường xuyên ra vào nội thành Sài Gòn để trực tiếp gặp gỡ những trí thức yêu nước và những người có cảm tình với kháng chiến.
Theo quan điểm của Nguyễn Bình, thay vì ngồi ở chiến khu chờ trí thức tìm đến, người làm cách mạng cần chủ động vào thành phố để trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và vận động họ. Với cách nói chuyện thẳng thắn và thái độ chân thành, ông đã thuyết phục được nhiều người tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến.
Ngày 20/1/1948, Nguyễn Bình được Nhà nước phong quân hàm Trung tướng, trở thành vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đến tháng 10/1948, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập và Nguyễn Bình được cử làm Tư lệnh. Trước đó, theo Sắc lệnh số 115/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 25/1/1948, ông được giao giữ cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ, phụ trách lãnh đạo lực lượng vũ trang chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ.
Ngoài vai trò chỉ huy quân sự, Nguyễn Bình còn giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và Ủy viên Quân sự Nam Bộ, trở thành một trong những cán bộ chủ chốt trong quá trình tổ chức và điều hành cuộc kháng chiến tại chiến trường phía Nam.
Tháng 10/1950, Bộ Tư lệnh Khu 7 quyết định mở Chiến dịch Bến Cát. Chiến dịch diễn ra từ ngày 7/10 đến 15/11/1950, quân ta tiêu diệt 509 quân đối phương, bắt 120 người, đồng thời thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện. Theo tài liệu, đây là chiến dịch đầu tiên và duy nhất được tổ chức ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hy sinh khi trên đường ra Bắc báo cáo công tác
Năm 1951, Trung ương triệu tập Nguyễn Bình ra Bắc để báo cáo tình hình chiến trường Nam Bộ. Tuy nhiên, trên đường thực hiện nhiệm vụ, ông bị phục kích và hy sinh ngày 29/9/1951 tại Ratanakiri, Campuchia.
Gần nửa thế kỷ sau, năm 2000, với sự giúp đỡ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia, đoàn công tác của Bộ Quốc phòng đã tìm thấy hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Hài cốt của ông được đưa về Việt Nam ngày 29/9/2000 và an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP. HCM.
Cuộc đời của Nguyễn Bình khép lại ở tuổi 43, nhưng những đóng góp của vị tướng đối với cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt trên chiến trường Nam Bộ, để lại dấu ấn sâu đậm.
Trong quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Trung tướng Nguyễn Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận những đóng góp của ông đối với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và sự nghiệp kháng chiến.
Riêng với Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá Nguyễn Bình “đã góp phần lớn vào việc chỉnh đốn, xây dựng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất Nam Bộ”.
Với những đóng góp đó, Nguyễn Bình được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên của vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện được đặt cho nhiều tuyến đường tại TPHCM, Hải Phòng...
(Nguồn tham khảo: Thành uỷ TPHCM, báo Quân đội nhân dân, báo Quân khu 7)
Nguồn: Trung tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, quê ở Hưng Yên, hiệu trưởng đầu tiên Trường Quân chính Miền Đông là ai?
Theo tài liệu, khi giao nhiệm vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định Nam Bộ cần một người chỉ huy có khả năng tập hợp các lực lượng vũ trang, tránh nguy cơ phân tán như tình trạng “Thập nhị sứ quân”. Người được lựa chọn phải vừa hiểu miền Nam, vừa có bản lĩnh tập hợp, thu phục nhiều lực lượng khác nhau. Trọng trách đó được giao cho Nguyễn Bình.
Đây là một quyết định đặc biệt bởi thời điểm được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách vào Nam, Nguyễn Bình vẫn chưa phải là Đảng viên Đảng cộng sản. Tuy nhiên, thực tế sau đó cho thấy ông đã đáp lại sự tin tưởng bằng năng lực tổ chức, chỉ huy và khả năng tập hợp lực lượng trong một hoàn cảnh hết sức phức tạp.
Theo các tài liệu ghi chép: Đến gặp Bác Hồ tại Bắc Bộ Phủ, hai bên đã trao đổi về tình hình cách mạng Nam Bộ, Bác nói:
“Bác nghĩ rằng các lực lượng vũ trang trong đó đang cần một chỉ huy tài năng để tập hợp cán bộ địa phương lại, nếu không sẽ có thể xẩy ra nạn thập nhị sứ quân rất tai hại trong lúc này. Người chỉ huy đó phải biết rõ miền Nam, lại phải là một người có đủ bản lĩnh thu hút những tay giang hồ kiểu Bình Xuyên. Chú có thể đảm nhận được vai trò đó không?”
Nguyễn Bình trả lời: “Bác đã tín nhiệm cháu, cháu xin nhận”.
Ngay sau khi vào Nam Bộ, ngày 22/10/1945, Nguyễn Bình ban hành Thông cáo số 1 gửi nhân dân Nam Bộ, khẳng định cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến của toàn dân, không phân biệt tuổi tác hay giới tính. Ông kêu gọi nhân dân đồng lòng chiến đấu, không cộng tác với đối phương, thực hiện “vườn không nhà trống” và tận dụng mọi phương tiện có thể để chống giặc.
Thông điệp chủ đạo của bản thông cáo là tinh thần quyết chiến, quyết thắng và huy động sức mạnh của toàn dân vào cuộc kháng chiến.
Không dừng lại ở lời kêu gọi, Nguyễn Bình nhanh chóng bắt tay vào giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất của Nam Bộ khi ấy: thống nhất các lực lượng vũ trang đang hoạt động tương đối phân tán.
Ngày 20/11/1945, với tư cách phái viên của Chính phủ Trung ương, Nguyễn Bình mời chỉ huy các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ về họp tại An Phú Xã. Hội nghị dưới sự chủ trì của ông thống nhất tổ chức các đơn vị thành những chi đội và bầu Nguyễn Bình làm Tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ.
Việc ban hành Thông cáo số 1 cùng những nỗ lực thống nhất các lực lượng vũ trang có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến. Không chỉ củng cố niềm tin của nhân dân và lực lượng vũ trang, những bước đi này còn góp phần hạn chế tình trạng cát cứ, tạo cơ sở để tổ chức cuộc kháng chiến ở Nam Bộ chặt chẽ và thống nhất hơn.
Ngày 12/12/1945, Nguyễn Bình quyết định thành lập Trường Quân chính Miền Đông và trực tiếp đảm nhiệm cương vị Hiệu trưởng đầu tiên. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/1945 đến tháng 4/1946, trường tổ chức hai khóa học đầu tiên mang tên Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, đào tạo hơn 100 cán bộ.
Nhiều học viên sau đó trở thành cán bộ lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến tại các địa phương ở Đông Nam Bộ. Nguyễn Bình còn trực tiếp đưa một số cán bộ theo dòng người hồi cư trở lại Sài Gòn để hoạt động bí mật. Trong dịp này, ông để lại câu nói nổi tiếng: “Các đồng chí về thành, rừng người bảo vệ các đồng chí còn tốt hơn rừng cây”.
Nguyễn Bình đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Nhận thấy các phân đội còn hạn chế về tổ chức, ngày 6/1/1946, ông triệu tập chỉ huy các chi đội và những phân đội vũ trang tự lập để bàn việc thống nhất lực lượng.
Hội nghị quyết định tổ chức các đơn vị này dưới tên chung là Ban Công tác thành, vừa đảm nhiệm nhiệm vụ chiến đấu, vừa tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia kháng chiến trong nội thành. Đây được coi là tiền thân của lực lượng vũ trang biệt động Sài Gòn sau này.
Tháng 6/1946, Nguyễn Bình được Trung ương Đảng phê chuẩn kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Hành trình chính trị của ông vì thế có nhiều nét đặc biệt: từ một thanh niên yêu nước, từng tham gia Việt Nam Quốc dân đảng, trải qua những năm tháng tù đày rồi chuyển sang con đường cách mạng cộng sản; trực tiếp tham gia tổ chức khởi nghĩa ở miền Bắc, nhận trọng trách vào chỉ huy kháng chiến tại Nam Bộ và sau đó mới chính thức trở thành đảng viên.
Uy tín, tinh thần yêu nước cùng khả năng tổ chức và chỉ huy của Nguyễn Bình tạo ảnh hưởng lớn đối với nhân dân, đặc biệt là tầng lớp trí thức. Ông thường xuyên ra vào nội thành Sài Gòn để trực tiếp gặp gỡ những trí thức yêu nước và những người có cảm tình với kháng chiến.
Theo quan điểm của Nguyễn Bình, thay vì ngồi ở chiến khu chờ trí thức tìm đến, người làm cách mạng cần chủ động vào thành phố để trực tiếp gặp gỡ, trao đổi và vận động họ. Với cách nói chuyện thẳng thắn và thái độ chân thành, ông đã thuyết phục được nhiều người tham gia hoặc ủng hộ cuộc kháng chiến.
Ngày 20/1/1948, Nguyễn Bình được Nhà nước phong quân hàm Trung tướng, trở thành vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đến tháng 10/1948, Bộ Tư lệnh Nam Bộ được thành lập và Nguyễn Bình được cử làm Tư lệnh. Trước đó, theo Sắc lệnh số 115/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 25/1/1948, ông được giao giữ cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Nam Bộ, phụ trách lãnh đạo lực lượng vũ trang chống Pháp trên chiến trường Nam Bộ.
Ngoài vai trò chỉ huy quân sự, Nguyễn Bình còn giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và Ủy viên Quân sự Nam Bộ, trở thành một trong những cán bộ chủ chốt trong quá trình tổ chức và điều hành cuộc kháng chiến tại chiến trường phía Nam.
Tháng 10/1950, Bộ Tư lệnh Khu 7 quyết định mở Chiến dịch Bến Cát. Chiến dịch diễn ra từ ngày 7/10 đến 15/11/1950, quân ta tiêu diệt 509 quân đối phương, bắt 120 người, đồng thời thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện. Theo tài liệu, đây là chiến dịch đầu tiên và duy nhất được tổ chức ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hy sinh khi trên đường ra Bắc báo cáo công tác
Năm 1951, Trung ương triệu tập Nguyễn Bình ra Bắc để báo cáo tình hình chiến trường Nam Bộ. Tuy nhiên, trên đường thực hiện nhiệm vụ, ông bị phục kích và hy sinh ngày 29/9/1951 tại Ratanakiri, Campuchia.
Gần nửa thế kỷ sau, năm 2000, với sự giúp đỡ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia, đoàn công tác của Bộ Quốc phòng đã tìm thấy hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình. Hài cốt của ông được đưa về Việt Nam ngày 29/9/2000 và an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP. HCM.
Cuộc đời của Nguyễn Bình khép lại ở tuổi 43, nhưng những đóng góp của vị tướng đối với cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt trên chiến trường Nam Bộ, để lại dấu ấn sâu đậm.
Trong quyết định tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Trung tướng Nguyễn Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận những đóng góp của ông đối với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và sự nghiệp kháng chiến.
Riêng với Nam Bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá Nguyễn Bình “đã góp phần lớn vào việc chỉnh đốn, xây dựng Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất Nam Bộ”.
Với những đóng góp đó, Nguyễn Bình được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên của vị Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện được đặt cho nhiều tuyến đường tại TPHCM, Hải Phòng...
(Nguồn tham khảo: Thành uỷ TPHCM, báo Quân đội nhân dân, báo Quân khu 7)
Nguồn: Trung tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam, quê ở Hưng Yên, hiệu trưởng đầu tiên Trường Quân chính Miền Đông là ai?





































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn