Tôn Trung Sơn.
Tôn Trung Sơn qua đời, vì sao phải thay tới 4 cỗ quan tài, thi hài của ông hiện ở đâu?
Những câu chuyện về cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn đã quá quen thuộc. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, một loạt câu chuyện liên quan đến việc bảo quản, an táng và di thể của ông lại ít được biết đến.
Tôn Trung Sơn lãnh đạo nhân dân Trung Quốc lật đổ chế độ chuyên chế của nhà Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến kéo dài hơn 2.000 năm tại Trung Quốc. Ông là nhà cách mạng tiên phong của Cách mạng Tân Hợi, được cả Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc đề cao, kính trọng, thường được gọi là “vĩ nhân” và tôn xưng là “Quốc phụ”.
Những câu chuyện về cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn đã quá quen thuộc. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, một loạt câu chuyện liên quan đến việc bảo quản, an táng và di thể của ông lại ít được biết đến.
Bốn cỗ quan tài của Tôn Trung Sơn
Cỗ quan tài thứ nhất: Quan tài gỗ nam kiểu Mỹ
Ba ngày sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, di thể của ông được đưa tới Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Bình để tiến hành xử lý chống phân hủy, sau đó được đặt vào một cỗ quan tài bằng gỗ nam kiểu Mỹ. Đây là cỗ quan tài đầu tiên của Tôn Trung Sơn.
Cỗ quan tài thứ hai: Quan tài gỗ nam có lớp kính
Không lâu sau khi di thể được nhập quan, Khổng Tường Hy cho rằng cỗ quan tài đầu tiên quá nhỏ nên thay bằng một cỗ quan tài gỗ nam lớn hơn.
Cỗ quan tài này có hình bầu dục, phần đầu hơi vuông và bên trong được ngăn bằng một lớp kính. Khi mở nắp, người đến viếng có thể nhìn thấy khuôn mặt của Tôn Trung Sơn.
Đây được gọi là cỗ quan tài gỗ nam kính, tức cỗ quan tài thứ hai.
Cỗ quan tài thứ ba: Quan tài pha lê do Liên Xô tặng
Trước khi qua đời, Tôn Trung Sơn từng bày tỏ mong muốn di thể của mình được bảo quản giống người bạn Vladimir Lenin, để hậu thế có thể đến chiêm ngưỡng.
Sau khi ông qua đời, ban tang lễ đã đặt mua một quan tài pha lê từ Liên Xô. Ngày 30/3/1925, Liên Xô tặng một cỗ quan tài pha lê cho phía Trung Quốc.
Cỗ quan tài dài 1,75 m, cao 0,5 m, phần đầu rộng 0,65 m và phần đuôi rộng 0,53 m. Nắp ngoài và lớp ngoài đều làm bằng thép mạ nickel, có màu bạc sáng bóng.
Tuy nhiên, sau khi các chuyên gia kiểm tra, họ phát hiện chất liệu của quan tài tương đối giòn, đồng thời dễ truyền nhiệt. Nếu vận chuyển đường dài, chỉ cần xuất hiện một vết nứt nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến di thể bên trong. Vì vậy, cỗ quan tài này cuối cùng không được sử dụng.
Sau đó, quan tài pha lê được đặt tại Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở chùa Bích Vân, Bắc Bình, để mọi người tới chiêm ngưỡng.
Cỗ quan tài thứ tư: Quan tài đồng đỏ đặt mua từ Mỹ
Cỗ quan tài thứ tư được đặt mua từ Mỹ, làm bằng đồng đỏ. Quan tài dài 2,24 m, rộng 0,8 m, cao 0,65 m, chế tác tinh xảo, hình thức đẹp mắt và có giá trị tới 15.000 lượng bạc.
Tháng 8/1925, quan tài được đưa tới Thượng Hải. Tống Khánh Linh sau khi xem qua tỏ ra rất hài lòng.
Tháng 4/1927, cơ quan lo việc an táng Tôn Trung Sơn tại Thượng Hải được chuyển tới Nam Kinh, cỗ quan tài đồng đỏ cũng được vận chuyển theo. Ngày 30/12/1928, nó tiếp tục được đưa tới Bắc Bình.
Ngày 22/5/1929, tại chùa Bích Vân ở Tây Sơn, Bắc Bình, Quốc dân chính phủ tổ chức nghi thức thay quan tài long trọng cho Tôn Trung Sơn.
Bác sĩ Stephen của Bệnh viện Hiệp Hòa cùng trợ lý Quách Vinh Huân và một y tá tiến hành lau sạch di thể, phủ vải lụa trắng, chỉnh trang tóc. Sau đó, Tôn Khoa, Trịnh Hồng Niên và Mã Tường mặc quần áo trong, lễ phục, giày tất và đeo găng tay cho ông.
Trang phục gồm áo trong và quần trong bằng lụa trắng, tất trắng, giày gấm đen, bên ngoài là áo sa xanh đơn giản, áo mã quái bằng gấm đen và găng tay lụa trắng.
Sau khi hoàn tất, di thể Tôn Trung Sơn được cẩn thận chuyển vào quan tài đồng đỏ. Xung quanh quan tài được đặt đệm bông và túi bông lụa trắng, trên người phủ một chiếc chăn gấm.
Ngày 1/6/1929, quan tài được đưa tới Lăng Tôn Trung Sơn và do tám vệ sĩ khiêng xuống huyệt mộ.
Cỗ quan tài gỗ nam có kính được thay ra sau đó được đặt quần áo, giày tất của Tôn Trung Sơn vào bên trong rồi niêm phong trong tháp đá tại chùa Bích Vân, Tây Sơn, Bắc Bình. Hồ Hán Dân viết dòng chữ “Mộ y quan Tôn Trung Sơn tiên sinh” trên bia đá.
Còn cỗ quan tài gỗ nam đầu tiên được lưu giữ tại Trường Trung học Trung-Pháp ở Bắc Bình.
Di thể Tôn Trung Sơn hiện ở đâu?
Ngày 1/6/1929, Quốc dân chính phủ tổ chức “Đại lễ Phụng an” long trọng cho Tôn Trung Sơn.
Sau khi được đưa tới Lăng Tôn Trung Sơn, quan tài được tám vệ sĩ khiêng xuống huyệt mộ. Huyệt được bịt kín bằng bê tông cốt thép, nằm sâu khoảng 5 m dưới tượng Tôn Trung Sơn đang nằm.
Trước khi quân Nhật chiếm Nam Kinh, chính quyền Nam Kinh từng đề xuất đưa di thể Tôn Trung Sơn tới Trùng Khánh. Tuy nhiên, để lấy di thể ra khỏi huyệt, buộc phải dùng thuốc nổ phá lớp bê tông. Một khi tiến hành phá dỡ, cả quan tài lẫn di thể đều có nguy cơ bị hủy hoại. Vì vậy, kế hoạch cuối cùng không được thực hiện.
Khi quân Nhật tấn công Nam Kinh, các công trình bên ngoài khu lăng mộ như Vĩnh Mộ Lư, Nhà tưởng niệm Phụng An... đều bị phá hủy bởi pháo binh. Một số công trình trong khu lăng cũng bị hư hại nghiêm trọng.
Tuy nhiên, sau khi tiến vào Nam Kinh, quân Nhật không tiếp tục phá hoại Lăng Tôn Trung Sơn, một phần do họ e ngại uy tín và ảnh hưởng rất lớn của Tôn Trung Sơn.
Từng xuất hiện lời đồn rằng khi Tưởng Giới Thạch rút khỏi đại lục, ông đã cho lấy di thể Tôn Trung Sơn khỏi Lăng Trung Sơn và đưa sang Đài Loan.
Tuy nhiên, theo người được cho là vệ sĩ của Tôn Trung Sơn, Phạm Lương, khi Tưởng Giới Thạch rút lui, ông hoàn toàn không đề cập tới việc di chuyển lăng mộ. Trước khi rời đi, Tôn Khoa chỉ nói với những người bảo vệ lăng rằng Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tôn trọng Tôn Trung Sơn, nên họ sẽ không gây khó dễ cho những người từng làm nhiệm vụ bảo vệ ông.
Sau khi chính quyền mới thành lập, Lăng Tôn Trung Sơn tiếp tục được bảo vệ. Vì vậy, theo nguồn tư liệu này, di thể Tôn Trung Sơn vẫn nằm trong huyệt mộ bên dưới tượng nằm tại Lăng Tôn Trung Sơn.
Thi thể của Tôn Trung Sơn trải qua 4 lần thay quan tài.
“Nội tạng” Tôn Trung Sơn từng bị quân Nhật thu giữ?
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, các bác sĩ tại Bệnh viện Hiệp Hòa tiến hành xử lý chống phân hủy di thể. Tôn Khoa, Trịnh Hồng Niên và Mã Tường đều có mặt.
Sau ca phẫu thuật, các bác sĩ đưa phần nội tạng lấy ra cho Tôn Khoa và những người có mặt xem, đồng thời cho biết chúng sẽ được hỏa táng.
Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Bệnh viện Hiệp Hòa do người Mỹ thành lập rơi vào tay quân Nhật. Khi kiểm tra phòng nghiên cứu của bệnh viện, người Nhật bất ngờ phát hiện các mẫu tiêu bản nội tạng của Tôn Trung Sơn, bao gồm các lát cắt và mẫu sáp.
Điều này cho thấy các phần nội tạng được cho là đã hỏa táng thực tế lại được bệnh viện giữ lại để nghiên cứu.
Sau khi biết chuyện, chính quyền Uông Tinh Vệ quyết định tận dụng sự việc này cho mục đích chính trị. Ngày 25/3/1942, Uông Tinh Vệ cử Bộ trưởng Ngoại giao Chu Dân Nghị tới Bắc Bình để tiếp nhận “linh tạng” của Tôn Trung Sơn.
Sau khi thương lượng với phía Nhật, phía Nhật đồng ý trao trả các mẫu vật.
Ngày 28/3, Chu Dân Nghị mang các mẫu vật lên xe về phía Nam. Ngày hôm sau, ông tới Phố Khẩu. Uông Tinh Vệ cùng những người khác đi tàu “Uông Tùy” tới đón, sau đó đưa các mẫu vật về Lăng Tôn Trung Sơn.
Ngày 5/4, Uông Tinh Vệ còn chủ trì nghi lễ “nghênh đón linh tạng Quốc phụ” tại nhà tế lễ của lăng.
Sau đó, bác sĩ Thang Tề Bình của Bệnh viện Rađium Thượng Hải, khi đang nghiên cứu phương pháp điều trị ung thư, xin được mượn các mẫu vật để phục vụ nghiên cứu và được Uông Tinh Vệ đồng ý.
Trước khi chiến tranh kết thúc, Chu Dân Nghị bí mật lấy các mẫu vật ra và giấu tại nhà một người họ hàng ở Nam Kinh.
Năm 1946, chính quyền Quốc dân đảng biết tin các mẫu nội tạng của Tôn Trung Sơn vẫn còn tồn tại nên lập tức thẩm vấn Chu Dân Nghị trong nhà tù Tô Châu.
Chu Dân Nghị đề nghị lấy việc giao lại các mẫu vật làm điều kiện để được miễn án tử hình.
Sau đó, vụ việc được điều tra, các lát cắt nội tạng, mẫu sáp và một hộp ảnh cùng hồ sơ lâm sàng được thu hồi. Tưởng Giới Thạch ra lệnh chuyển toàn bộ cho Ủy ban quản lý Lăng Tôn Trung Sơn bảo quản.
Tuy nhiên, hiện nay phía quản lý Lăng Tôn Trung Sơn không còn những mẫu vật này. Có nguồn cho rằng năm 1949, khi Quốc dân đảng rút khỏi Nam Kinh, Tôn Khoa đã mang chúng theo.
Di chúc của Tôn Trung Sơn được hình thành như thế nào?
Tháng 10/1924, sau cuộc chính biến Bắc Bình do Phùng Ngọc Tường phát động, Tôn Trung Sơn được mời ra Bắc để bàn việc quốc gia.
Ông nhận lời, đi qua Hồng Kông, Thượng Hải, vòng qua Nhật Bản rồi tới Thiên Tân trước khi tiến về Bắc Bình. Do hành trình quá vất vả, ông đổ bệnh trước khi tới nơi.
Tại Bắc Bình, dù được điều trị tận tình, tình trạng sức khỏe của ông không những không cải thiện mà còn ngày càng xấu đi. Vì vậy, những người thân cận bắt đầu tính tới hậu sự và đề nghị ông để lại di chúc.
Cuối cùng, Tôn Trung Sơn để lại ba văn kiện gồm “Di chúc chính trị”, “Di chúc gia sự” và “Thư gửi Chính phủ Liên Xô”.
Có ba cách giải thích về quá trình hình thành hai bản di chúc chính trị và gia sự. Một quan điểm cho rằng văn bản đã được chuẩn bị trước, sau đó đưa cho Tôn Trung Sơn xem và ký. Quan điểm thứ hai cho rằng đó là nội dung ông đọc khi nằm trên giường bệnh và được ghi lại. Quan điểm thứ ba cho rằng ông chỉ nói ra những ý chính, sau đó người khác biên soạn thành văn bản.
Theo nội dung nguồn tư liệu, dựa trên tình trạng sức khỏe và tâm lý của Tôn Trung Sơn lúc đó, khả năng các văn kiện đã được chuẩn bị trước, sau đó được ông đồng ý và ký tên là đáng kể. Con trai ông là Tôn Khoa và thư ký Hoàng Xương Cốc cũng từng hồi tưởng theo hướng này.
Theo nguồn trên, di chúc do Uông Tinh Vệ soạn thảo và được Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng thông qua.
Ngày 24/2/1925, khi Tôn Trung Sơn lâm bệnh nặng, Uông Tinh Vệ, Tôn Khoa và những người khác tới bên giường bệnh, đồng thời đề nghị Tống Khánh Linh tạm thời rời khỏi phòng.
Uông Tinh Vệ nói rằng các đồng chí mong Tôn Trung Sơn để lại vài lời dặn dò để mọi người tuân thủ.
Tôn Trung Sơn im lặng một lúc rồi nói: “Tôi thấy các anh đang ở trong tình thế rất nguy hiểm. Nếu tôi chết, kẻ thù nhất định sẽ tìm cách làm các anh thay đổi. Nếu các anh không bị kẻ thù làm lung lay, vậy tôi còn điều gì phải nói nữa?”
Uông Tinh Vệ và những người khác khẳng định họ không sợ nguy hiểm và không sợ bị đối phương làm lung lay.
Tôn Trung Sơn hỏi: “Vậy các anh muốn tôi nói gì?”
Uông Tinh Vệ trả lời rằng họ đã chuẩn bị sẵn một số câu, nếu Tôn Trung Sơn đồng ý thì ký tên, coi như lời của ông; nếu không đồng ý thì ông có thể nói những điều khác để họ ghi lại.
Thi thể của Tôn Trung Sơn hiện vẫn nằm trong lăng mộ tại núi Tử Kim?
Tôn Trung Sơn đáp: “Tốt.”
Uông Tinh Vệ đọc bản dự thảo đã chuẩn bị. Sau khi nghe xong, Tôn Trung Sơn tỏ ý hài lòng và nói: “Được, tôi hoàn toàn đồng ý!”
Sau đó, Uông Tinh Vệ đọc bản di chúc gia sự. Tôn Trung Sơn cũng nói: “Được, tôi cũng đồng ý!”
Khi chuẩn bị yêu cầu ông ký, mọi người nghe thấy Tống Khánh Linh khóc rất đau lòng bên ngoài. Tôn Trung Sơn liền nói: “Các anh tạm thời cất đi. Tôi vẫn còn sống được vài ngày nữa.”
Đến ngày 11/3, tức một ngày trước khi ông qua đời, Hà Hương Ngưng nhận thấy mắt Tôn Trung Sơn bắt đầu mờ đi và nói với Uông Tinh Vệ rằng không thể trì hoãn việc ký nữa.
Tống Khánh Linh cũng được khuyên không nên khóc.
Uông Tinh Vệ cùng người thân của Tôn Trung Sơn và một số nhân vật Quốc dân đảng như Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, Đới Quý Đào tới bên giường bệnh.
Khi hai bản di chúc được đưa tới, Tôn Khoa đưa bút cho cha. Nhưng lúc này Tôn Trung Sơn đã rất khó cầm bút. Tống Khánh Linh phải đỡ cổ tay ông để ông ký.
Trên cả hai bản di chúc, ông ký dòng: “Tôn Văn, ngày 11 tháng 3 ký bổ sung.”
Ông dặn rằng sau khi mình qua đời, những văn kiện này phải được công bố ngay.
Sau khi Tôn Trung Sơn ký, Uông Tinh Vệ ký ở phần “người ghi chép”, còn những người khác ký vào phần “người chứng kiến”.
Vì sao Lăng Tôn Trung Sơn được xây ở núi Tử Kim?
Tôn Trung Sơn quê ở Hương Sơn, Quảng Đông và qua đời tại Bắc Bình. Ông không có nhiều thời gian sống tại Nam Kinh, vậy tại sao nơi an nghỉ cuối cùng lại được lựa chọn ở núi Tử Kim?
Theo tư liệu, khi còn giữ chức Tổng thống lâm thời tại Nam Kinh, Tôn Trung Sơn từng cùng Hồ Hán Dân và những người khác tới khu vực phía Đông thành phố đi săn.
Từ Minh Hiếu Lăng đi tới chùa Bán Sơn, Tôn Trung Sơn phóng tầm mắt ra xa, chỉ về phía Phương Sơn và dòng sông Tần Hoài uốn lượn rồi nói rằng địa thế nơi đây còn tốt hơn Minh Hiếu Lăng.
Ông từng bày tỏ mong muốn rằng sau khi qua đời, người dân có thể cho mình “một nắm đất” tại nơi này để an nghỉ.
Tháng 3/1925, khi Tôn Trung Sơn lâm bệnh nặng, Tống Khánh Linh, Hà Hương Ngưng và Uông Tinh Vệ bí mật bàn chuyện hậu sự.
Khi nói tới nơi an táng, Uông Tinh Vệ cho rằng nếu Tôn Trung Sơn qua đời thì chôn tại Cảnh Sơn, Bắc Bình là thích hợp nhất.
Lúc đó Tôn Trung Sơn vốn đang ngủ, nhưng bất ngờ tỉnh lại, liên tục nói: “Không, không! Tôi muốn được an táng ở núi Tử Kim.”
Mọi người đều ngạc nhiên nhưng để an ủi ông nên đồng ý, dù lúc ấy không ai biết núi Tử Kim nằm ở đâu.
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, khi bàn chuyện đưa linh cữu về đâu, mọi người vẫn không xác định được núi Tử Kim là địa điểm nào.
Trần Khứ Bệnh, một nguyên lão Quốc dân đảng người Giang Tô, vốn rất am hiểu địa lý Nam Kinh, giải thích rằng núi Tử Kim chính là Chung Sơn, nơi có Minh Hiếu Lăng.
Mọi người lúc đó mới hiểu ra.
Hóa ra nơi Tôn Trung Sơn từng lựa chọn chính là khu vực chùa Bán Sơn trên Chung Sơn.
Tống Khánh Linh, Tôn Khoa và đại diện ban tang lễ sau đó trực tiếp tới núi Tử Kim khảo sát. Cuối cùng, địa điểm được xác định chính là nơi Lăng Tôn Trung Sơn tọa lạc ngày nay.
Vì sao Lăng Tôn Trung Sơn không có văn bia?
Lăng Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh uy nghiêm và tráng lệ, nhưng có một điều khá đặc biệt: lăng mộ của một nhà cách mạng có ảnh hưởng lớn như Tôn Trung Sơn lại không có văn bia theo nghĩa truyền thống.
Sau khi công trình hoàn thành, việc dựng một văn bia tóm lược cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn được xem là điều cần thiết.
Nhiều người cho rằng người thích hợp nhất để đảm nhiệm công việc này là Chương Thái Viêm, người có quan hệ mật thiết với Tôn Trung Sơn.
Chương Thái Viêm từng cho rằng mình là người hiểu Tôn Trung Sơn sâu sắc và có tư cách viết văn bia cho ông.
Ban tang lễ cũng chính thức mời ông tham gia công việc và soạn văn bia.</>
Tuy nhiên, Chương Thái Viêm vốn bất mãn với Tưởng Giới Thạch và chính sách của ông. Vì vậy, theo nguồn tư liệu này, Tưởng Giới Thạch không đồng ý sử dụng văn bia do Chương Thái Viêm soạn.
Kết quả là sau khi Lăng Tôn Trung Sơn hoàn thành, đình bia vẫn tồn tại nhưng không có văn bia. Cuối cùng, bốn chữ “Thiên hạ vi công” được khắc trong đình để thay thế.
Hai bức tượng Tôn Trung Sơn do ai thực hiện?
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, tại Lăng Tôn Trung Sơn có hai bức tượng nổi bật: một tượng ngồi đặt ở chính giữa nhà tế lễ và một tượng nằm bằng đá cẩm thạch trắng trong phòng mộ.
Tượng nằm được nhà điêu khắc nổi tiếng người Tiệp Khắc Cao Kỳ thực hiện. Ông trước tiên tạo khuôn mẫu từ di thể Tôn Trung Sơn, sau đó sử dụng đá cẩm thạch trắng Bắc Bình để chế tác trong khoảng một năm ba tháng.
Tượng ngồi trong nhà tế lễ do nhà điêu khắc người Pháp gốc Ba Lan Paul Landowski thực hiện.
Landowski khi đó là một nhà điêu khắc nổi tiếng. Ông đề nghị Tôn Khoa tới Paris làm mẫu vì một số đường nét của Tôn Khoa khá giống cha.
Tôn Khoa mang theo nhiều bức ảnh Tôn Trung Sơn ở các thời kỳ khác nhau.
Sau khi nghiên cứu kỹ các bức ảnh và phác thảo Tôn Khoa, Landowski hoàn thiện ý tưởng tạo hình.
Phần áo dài, mã quái và hoa văn phương Đông trên chiếc ghế thái sư được ông thiết kế với sự hỗ trợ của các học trò người Trung Quốc.
Sau nhiều lần chỉnh sửa, Landowski lựa chọn một khối đá cẩm thạch trắng chất lượng cao của Italia để bắt đầu chế tác.
Sau một năm tám tháng, tượng Tôn Trung Sơn hoàn thành ngày 25/6/1930.
Tượng được đưa về Trung Quốc và ngày 12/11/1930, chính quyền Quốc dân đảng tổ chức lễ khánh thành trọng thể tại nhà tế lễ của Lăng Tôn Trung Sơn.
Đáng chú ý, hai bức tượng lại mặc hai kiểu trang phục khác nhau.
Tượng ngồi mặc áo dài, mã quái, trong khi tượng nằm mặc Trung Sơn trang.
Theo nguồn tư liệu, điều này phản ánh cuộc tranh đấu giữa các phe phái trong Quốc dân đảng sau khi Tôn Trung Sơn qua đời. Tống Khánh Linh và Hà Hương Ngưng chủ trương giữ hình ảnh hiện đại, để Tôn Trung Sơn mặc Trung Sơn trang; trong khi Tưởng Giới Thạch và Hồ Hán Dân thiên về trang phục truyền thống.
Hai bên tranh luận gay gắt và cuối cùng xuất hiện hai hình tượng Tôn Trung Sơn với hai cách ăn mặc khác nhau.
Giọng nói của Tôn Trung Sơn được lưu lại như thế nào?
Khi Tôn Trung Sơn hoạt động cách mạng, kỹ thuật ghi âm trực tiếp vẫn chưa phổ biến. Vì vậy, phần lớn tư liệu còn lại chỉ là ảnh và phim không có tiếng.
Sau này, người ta phát hiện hai đĩa hát ghi lại bài diễn thuyết của Tôn Trung Sơn.
Hai bản ghi được Thẩm Trác Ngô của tờ Trung Quốc Vãn Báo ghi lại tại Thượng Hải vào năm 1924.
Khi công nghệ ghi âm mới du nhập vào Trung Quốc, Thẩm Trác Ngô vốn rất kính trọng Tôn Trung Sơn nên quyết tâm lưu giữ giọng nói của nhà cách mạng này.
Ông mang kỹ thuật viên tới Quảng Châu và liên hệ với Tôn Khoa cùng Đới Quý Đào để đề nghị ghi âm.
Tôn Trung Sơn đồng ý.
Ngày 30/5/1924, tại Câu lạc bộ Nam Đê ở Quảng Châu, Tôn Trung Sơn đọc bài “Cáo giới đồng chí” trước máy hát và ghi được bốn bản gốc.
Sau khi trở về Thượng Hải, Thẩm Trác Ngô cho sản xuất hai đĩa hát mang tên “Cáo giới đồng chí” và “Khuyến lệ quốc dân”.
Theo nguồn tư liệu, hai đĩa hát này sau đó từng bị gãy làm đôi, nhưng khi ghép lại vẫn có thể phát âm thanh và chất lượng tiếng tương đối rõ.
Người nghe có thể nhận ra Tôn Trung Sơn sử dụng tiếng Quan thoại pha giọng địa phương.
Hai chiếc đĩa từng được một quan chức Quốc dân đảng tên Lam Kim Hoa lưu giữ. Trước khi qua đời năm 1952, ông trao lại cho cháu trai Lam Tán Ngọc.
Sau đó, Lam Tán Ngọc hiến tặng chúng cho Nhà nước.
Ngày nay, khi tham quan Nhà cũ Tôn Trung Sơn, người ta vẫn có thể nghe lại giọng nói trầm hùng của ông qua bản sao từ những chiếc đĩa cổ: “Nếu tất cả chúng ta cùng thức tỉnh, Trung Quốc mới có hy vọng…”
Đó là một trong những âm thanh hiếm hoi còn lại giúp hậu thế hình dung trực tiếp về giọng nói của Tôn Trung Sơn.
BÍ ẨN LĂNG MỘ TÔN TRUNG SƠN - TRUNG QUỐC | ĐẦU TƯ KHỦNG, NHÀ THIẾT KẾ QUA ĐỜI VÌ KIỆT SỨC
Cuộc đời & sự nghiệp TÔN TRUNG SƠN - Người được cả Trung Quốc tôn kính
Hé Lộ Chuyện TỐNG KHÁNH LINH Chọn Đất Phong Thủy Đặt Mộ TÔN TRUNG SƠN Tụ Khí Long Mạch Cả Trung Quốc
Nguồn: Tôn Trung Sơn qua đời, vì sao phải thay tới 4 cỗ quan tài, thi hài của ông hiện ở đâu?
Những câu chuyện về cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn đã quá quen thuộc. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, một loạt câu chuyện liên quan đến việc bảo quản, an táng và di thể của ông lại ít được biết đến.
Tôn Trung Sơn lãnh đạo nhân dân Trung Quốc lật đổ chế độ chuyên chế của nhà Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến kéo dài hơn 2.000 năm tại Trung Quốc. Ông là nhà cách mạng tiên phong của Cách mạng Tân Hợi, được cả Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc đề cao, kính trọng, thường được gọi là “vĩ nhân” và tôn xưng là “Quốc phụ”.
Những câu chuyện về cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn đã quá quen thuộc. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời, một loạt câu chuyện liên quan đến việc bảo quản, an táng và di thể của ông lại ít được biết đến.
Bốn cỗ quan tài của Tôn Trung Sơn
Cỗ quan tài thứ nhất: Quan tài gỗ nam kiểu Mỹ
Ba ngày sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, di thể của ông được đưa tới Bệnh viện Hiệp Hòa Bắc Bình để tiến hành xử lý chống phân hủy, sau đó được đặt vào một cỗ quan tài bằng gỗ nam kiểu Mỹ. Đây là cỗ quan tài đầu tiên của Tôn Trung Sơn.
Cỗ quan tài thứ hai: Quan tài gỗ nam có lớp kính
Không lâu sau khi di thể được nhập quan, Khổng Tường Hy cho rằng cỗ quan tài đầu tiên quá nhỏ nên thay bằng một cỗ quan tài gỗ nam lớn hơn.
Cỗ quan tài này có hình bầu dục, phần đầu hơi vuông và bên trong được ngăn bằng một lớp kính. Khi mở nắp, người đến viếng có thể nhìn thấy khuôn mặt của Tôn Trung Sơn.
Đây được gọi là cỗ quan tài gỗ nam kính, tức cỗ quan tài thứ hai.
Cỗ quan tài thứ ba: Quan tài pha lê do Liên Xô tặng
Trước khi qua đời, Tôn Trung Sơn từng bày tỏ mong muốn di thể của mình được bảo quản giống người bạn Vladimir Lenin, để hậu thế có thể đến chiêm ngưỡng.
Sau khi ông qua đời, ban tang lễ đã đặt mua một quan tài pha lê từ Liên Xô. Ngày 30/3/1925, Liên Xô tặng một cỗ quan tài pha lê cho phía Trung Quốc.
Cỗ quan tài dài 1,75 m, cao 0,5 m, phần đầu rộng 0,65 m và phần đuôi rộng 0,53 m. Nắp ngoài và lớp ngoài đều làm bằng thép mạ nickel, có màu bạc sáng bóng.
Tuy nhiên, sau khi các chuyên gia kiểm tra, họ phát hiện chất liệu của quan tài tương đối giòn, đồng thời dễ truyền nhiệt. Nếu vận chuyển đường dài, chỉ cần xuất hiện một vết nứt nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến di thể bên trong. Vì vậy, cỗ quan tài này cuối cùng không được sử dụng.
Sau đó, quan tài pha lê được đặt tại Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở chùa Bích Vân, Bắc Bình, để mọi người tới chiêm ngưỡng.
Cỗ quan tài thứ tư: Quan tài đồng đỏ đặt mua từ Mỹ
Cỗ quan tài thứ tư được đặt mua từ Mỹ, làm bằng đồng đỏ. Quan tài dài 2,24 m, rộng 0,8 m, cao 0,65 m, chế tác tinh xảo, hình thức đẹp mắt và có giá trị tới 15.000 lượng bạc.
Tháng 8/1925, quan tài được đưa tới Thượng Hải. Tống Khánh Linh sau khi xem qua tỏ ra rất hài lòng.
Tháng 4/1927, cơ quan lo việc an táng Tôn Trung Sơn tại Thượng Hải được chuyển tới Nam Kinh, cỗ quan tài đồng đỏ cũng được vận chuyển theo. Ngày 30/12/1928, nó tiếp tục được đưa tới Bắc Bình.
Ngày 22/5/1929, tại chùa Bích Vân ở Tây Sơn, Bắc Bình, Quốc dân chính phủ tổ chức nghi thức thay quan tài long trọng cho Tôn Trung Sơn.
Bác sĩ Stephen của Bệnh viện Hiệp Hòa cùng trợ lý Quách Vinh Huân và một y tá tiến hành lau sạch di thể, phủ vải lụa trắng, chỉnh trang tóc. Sau đó, Tôn Khoa, Trịnh Hồng Niên và Mã Tường mặc quần áo trong, lễ phục, giày tất và đeo găng tay cho ông.
Trang phục gồm áo trong và quần trong bằng lụa trắng, tất trắng, giày gấm đen, bên ngoài là áo sa xanh đơn giản, áo mã quái bằng gấm đen và găng tay lụa trắng.
Sau khi hoàn tất, di thể Tôn Trung Sơn được cẩn thận chuyển vào quan tài đồng đỏ. Xung quanh quan tài được đặt đệm bông và túi bông lụa trắng, trên người phủ một chiếc chăn gấm.
Ngày 1/6/1929, quan tài được đưa tới Lăng Tôn Trung Sơn và do tám vệ sĩ khiêng xuống huyệt mộ.
Cỗ quan tài gỗ nam có kính được thay ra sau đó được đặt quần áo, giày tất của Tôn Trung Sơn vào bên trong rồi niêm phong trong tháp đá tại chùa Bích Vân, Tây Sơn, Bắc Bình. Hồ Hán Dân viết dòng chữ “Mộ y quan Tôn Trung Sơn tiên sinh” trên bia đá.
Còn cỗ quan tài gỗ nam đầu tiên được lưu giữ tại Trường Trung học Trung-Pháp ở Bắc Bình.
Di thể Tôn Trung Sơn hiện ở đâu?
Ngày 1/6/1929, Quốc dân chính phủ tổ chức “Đại lễ Phụng an” long trọng cho Tôn Trung Sơn.
Sau khi được đưa tới Lăng Tôn Trung Sơn, quan tài được tám vệ sĩ khiêng xuống huyệt mộ. Huyệt được bịt kín bằng bê tông cốt thép, nằm sâu khoảng 5 m dưới tượng Tôn Trung Sơn đang nằm.
Trước khi quân Nhật chiếm Nam Kinh, chính quyền Nam Kinh từng đề xuất đưa di thể Tôn Trung Sơn tới Trùng Khánh. Tuy nhiên, để lấy di thể ra khỏi huyệt, buộc phải dùng thuốc nổ phá lớp bê tông. Một khi tiến hành phá dỡ, cả quan tài lẫn di thể đều có nguy cơ bị hủy hoại. Vì vậy, kế hoạch cuối cùng không được thực hiện.
Khi quân Nhật tấn công Nam Kinh, các công trình bên ngoài khu lăng mộ như Vĩnh Mộ Lư, Nhà tưởng niệm Phụng An... đều bị phá hủy bởi pháo binh. Một số công trình trong khu lăng cũng bị hư hại nghiêm trọng.
Tuy nhiên, sau khi tiến vào Nam Kinh, quân Nhật không tiếp tục phá hoại Lăng Tôn Trung Sơn, một phần do họ e ngại uy tín và ảnh hưởng rất lớn của Tôn Trung Sơn.
Từng xuất hiện lời đồn rằng khi Tưởng Giới Thạch rút khỏi đại lục, ông đã cho lấy di thể Tôn Trung Sơn khỏi Lăng Trung Sơn và đưa sang Đài Loan.
Tuy nhiên, theo người được cho là vệ sĩ của Tôn Trung Sơn, Phạm Lương, khi Tưởng Giới Thạch rút lui, ông hoàn toàn không đề cập tới việc di chuyển lăng mộ. Trước khi rời đi, Tôn Khoa chỉ nói với những người bảo vệ lăng rằng Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tôn trọng Tôn Trung Sơn, nên họ sẽ không gây khó dễ cho những người từng làm nhiệm vụ bảo vệ ông.
Sau khi chính quyền mới thành lập, Lăng Tôn Trung Sơn tiếp tục được bảo vệ. Vì vậy, theo nguồn tư liệu này, di thể Tôn Trung Sơn vẫn nằm trong huyệt mộ bên dưới tượng nằm tại Lăng Tôn Trung Sơn.
Thi thể của Tôn Trung Sơn trải qua 4 lần thay quan tài.
“Nội tạng” Tôn Trung Sơn từng bị quân Nhật thu giữ?
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, các bác sĩ tại Bệnh viện Hiệp Hòa tiến hành xử lý chống phân hủy di thể. Tôn Khoa, Trịnh Hồng Niên và Mã Tường đều có mặt.
Sau ca phẫu thuật, các bác sĩ đưa phần nội tạng lấy ra cho Tôn Khoa và những người có mặt xem, đồng thời cho biết chúng sẽ được hỏa táng.
Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, Bệnh viện Hiệp Hòa do người Mỹ thành lập rơi vào tay quân Nhật. Khi kiểm tra phòng nghiên cứu của bệnh viện, người Nhật bất ngờ phát hiện các mẫu tiêu bản nội tạng của Tôn Trung Sơn, bao gồm các lát cắt và mẫu sáp.
Điều này cho thấy các phần nội tạng được cho là đã hỏa táng thực tế lại được bệnh viện giữ lại để nghiên cứu.
Sau khi biết chuyện, chính quyền Uông Tinh Vệ quyết định tận dụng sự việc này cho mục đích chính trị. Ngày 25/3/1942, Uông Tinh Vệ cử Bộ trưởng Ngoại giao Chu Dân Nghị tới Bắc Bình để tiếp nhận “linh tạng” của Tôn Trung Sơn.
Sau khi thương lượng với phía Nhật, phía Nhật đồng ý trao trả các mẫu vật.
Ngày 28/3, Chu Dân Nghị mang các mẫu vật lên xe về phía Nam. Ngày hôm sau, ông tới Phố Khẩu. Uông Tinh Vệ cùng những người khác đi tàu “Uông Tùy” tới đón, sau đó đưa các mẫu vật về Lăng Tôn Trung Sơn.
Ngày 5/4, Uông Tinh Vệ còn chủ trì nghi lễ “nghênh đón linh tạng Quốc phụ” tại nhà tế lễ của lăng.
Sau đó, bác sĩ Thang Tề Bình của Bệnh viện Rađium Thượng Hải, khi đang nghiên cứu phương pháp điều trị ung thư, xin được mượn các mẫu vật để phục vụ nghiên cứu và được Uông Tinh Vệ đồng ý.
Trước khi chiến tranh kết thúc, Chu Dân Nghị bí mật lấy các mẫu vật ra và giấu tại nhà một người họ hàng ở Nam Kinh.
Năm 1946, chính quyền Quốc dân đảng biết tin các mẫu nội tạng của Tôn Trung Sơn vẫn còn tồn tại nên lập tức thẩm vấn Chu Dân Nghị trong nhà tù Tô Châu.
Chu Dân Nghị đề nghị lấy việc giao lại các mẫu vật làm điều kiện để được miễn án tử hình.
Sau đó, vụ việc được điều tra, các lát cắt nội tạng, mẫu sáp và một hộp ảnh cùng hồ sơ lâm sàng được thu hồi. Tưởng Giới Thạch ra lệnh chuyển toàn bộ cho Ủy ban quản lý Lăng Tôn Trung Sơn bảo quản.
Tuy nhiên, hiện nay phía quản lý Lăng Tôn Trung Sơn không còn những mẫu vật này. Có nguồn cho rằng năm 1949, khi Quốc dân đảng rút khỏi Nam Kinh, Tôn Khoa đã mang chúng theo.
Di chúc của Tôn Trung Sơn được hình thành như thế nào?
Tháng 10/1924, sau cuộc chính biến Bắc Bình do Phùng Ngọc Tường phát động, Tôn Trung Sơn được mời ra Bắc để bàn việc quốc gia.
Ông nhận lời, đi qua Hồng Kông, Thượng Hải, vòng qua Nhật Bản rồi tới Thiên Tân trước khi tiến về Bắc Bình. Do hành trình quá vất vả, ông đổ bệnh trước khi tới nơi.
Tại Bắc Bình, dù được điều trị tận tình, tình trạng sức khỏe của ông không những không cải thiện mà còn ngày càng xấu đi. Vì vậy, những người thân cận bắt đầu tính tới hậu sự và đề nghị ông để lại di chúc.
Cuối cùng, Tôn Trung Sơn để lại ba văn kiện gồm “Di chúc chính trị”, “Di chúc gia sự” và “Thư gửi Chính phủ Liên Xô”.
Có ba cách giải thích về quá trình hình thành hai bản di chúc chính trị và gia sự. Một quan điểm cho rằng văn bản đã được chuẩn bị trước, sau đó đưa cho Tôn Trung Sơn xem và ký. Quan điểm thứ hai cho rằng đó là nội dung ông đọc khi nằm trên giường bệnh và được ghi lại. Quan điểm thứ ba cho rằng ông chỉ nói ra những ý chính, sau đó người khác biên soạn thành văn bản.
Theo nội dung nguồn tư liệu, dựa trên tình trạng sức khỏe và tâm lý của Tôn Trung Sơn lúc đó, khả năng các văn kiện đã được chuẩn bị trước, sau đó được ông đồng ý và ký tên là đáng kể. Con trai ông là Tôn Khoa và thư ký Hoàng Xương Cốc cũng từng hồi tưởng theo hướng này.
Theo nguồn trên, di chúc do Uông Tinh Vệ soạn thảo và được Ban Chấp hành Trung ương Quốc dân đảng thông qua.
Ngày 24/2/1925, khi Tôn Trung Sơn lâm bệnh nặng, Uông Tinh Vệ, Tôn Khoa và những người khác tới bên giường bệnh, đồng thời đề nghị Tống Khánh Linh tạm thời rời khỏi phòng.
Uông Tinh Vệ nói rằng các đồng chí mong Tôn Trung Sơn để lại vài lời dặn dò để mọi người tuân thủ.
Tôn Trung Sơn im lặng một lúc rồi nói: “Tôi thấy các anh đang ở trong tình thế rất nguy hiểm. Nếu tôi chết, kẻ thù nhất định sẽ tìm cách làm các anh thay đổi. Nếu các anh không bị kẻ thù làm lung lay, vậy tôi còn điều gì phải nói nữa?”
Uông Tinh Vệ và những người khác khẳng định họ không sợ nguy hiểm và không sợ bị đối phương làm lung lay.
Tôn Trung Sơn hỏi: “Vậy các anh muốn tôi nói gì?”
Uông Tinh Vệ trả lời rằng họ đã chuẩn bị sẵn một số câu, nếu Tôn Trung Sơn đồng ý thì ký tên, coi như lời của ông; nếu không đồng ý thì ông có thể nói những điều khác để họ ghi lại.
Thi thể của Tôn Trung Sơn hiện vẫn nằm trong lăng mộ tại núi Tử Kim?
Tôn Trung Sơn đáp: “Tốt.”
Uông Tinh Vệ đọc bản dự thảo đã chuẩn bị. Sau khi nghe xong, Tôn Trung Sơn tỏ ý hài lòng và nói: “Được, tôi hoàn toàn đồng ý!”
Sau đó, Uông Tinh Vệ đọc bản di chúc gia sự. Tôn Trung Sơn cũng nói: “Được, tôi cũng đồng ý!”
Khi chuẩn bị yêu cầu ông ký, mọi người nghe thấy Tống Khánh Linh khóc rất đau lòng bên ngoài. Tôn Trung Sơn liền nói: “Các anh tạm thời cất đi. Tôi vẫn còn sống được vài ngày nữa.”
Đến ngày 11/3, tức một ngày trước khi ông qua đời, Hà Hương Ngưng nhận thấy mắt Tôn Trung Sơn bắt đầu mờ đi và nói với Uông Tinh Vệ rằng không thể trì hoãn việc ký nữa.
Tống Khánh Linh cũng được khuyên không nên khóc.
Uông Tinh Vệ cùng người thân của Tôn Trung Sơn và một số nhân vật Quốc dân đảng như Tống Tử Văn, Khổng Tường Hy, Đới Quý Đào tới bên giường bệnh.
Khi hai bản di chúc được đưa tới, Tôn Khoa đưa bút cho cha. Nhưng lúc này Tôn Trung Sơn đã rất khó cầm bút. Tống Khánh Linh phải đỡ cổ tay ông để ông ký.
Trên cả hai bản di chúc, ông ký dòng: “Tôn Văn, ngày 11 tháng 3 ký bổ sung.”
Ông dặn rằng sau khi mình qua đời, những văn kiện này phải được công bố ngay.
Sau khi Tôn Trung Sơn ký, Uông Tinh Vệ ký ở phần “người ghi chép”, còn những người khác ký vào phần “người chứng kiến”.
Vì sao Lăng Tôn Trung Sơn được xây ở núi Tử Kim?
Tôn Trung Sơn quê ở Hương Sơn, Quảng Đông và qua đời tại Bắc Bình. Ông không có nhiều thời gian sống tại Nam Kinh, vậy tại sao nơi an nghỉ cuối cùng lại được lựa chọn ở núi Tử Kim?
Theo tư liệu, khi còn giữ chức Tổng thống lâm thời tại Nam Kinh, Tôn Trung Sơn từng cùng Hồ Hán Dân và những người khác tới khu vực phía Đông thành phố đi săn.
Từ Minh Hiếu Lăng đi tới chùa Bán Sơn, Tôn Trung Sơn phóng tầm mắt ra xa, chỉ về phía Phương Sơn và dòng sông Tần Hoài uốn lượn rồi nói rằng địa thế nơi đây còn tốt hơn Minh Hiếu Lăng.
Ông từng bày tỏ mong muốn rằng sau khi qua đời, người dân có thể cho mình “một nắm đất” tại nơi này để an nghỉ.
Tháng 3/1925, khi Tôn Trung Sơn lâm bệnh nặng, Tống Khánh Linh, Hà Hương Ngưng và Uông Tinh Vệ bí mật bàn chuyện hậu sự.
Khi nói tới nơi an táng, Uông Tinh Vệ cho rằng nếu Tôn Trung Sơn qua đời thì chôn tại Cảnh Sơn, Bắc Bình là thích hợp nhất.
Lúc đó Tôn Trung Sơn vốn đang ngủ, nhưng bất ngờ tỉnh lại, liên tục nói: “Không, không! Tôi muốn được an táng ở núi Tử Kim.”
Mọi người đều ngạc nhiên nhưng để an ủi ông nên đồng ý, dù lúc ấy không ai biết núi Tử Kim nằm ở đâu.
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, khi bàn chuyện đưa linh cữu về đâu, mọi người vẫn không xác định được núi Tử Kim là địa điểm nào.
Trần Khứ Bệnh, một nguyên lão Quốc dân đảng người Giang Tô, vốn rất am hiểu địa lý Nam Kinh, giải thích rằng núi Tử Kim chính là Chung Sơn, nơi có Minh Hiếu Lăng.
Mọi người lúc đó mới hiểu ra.
Hóa ra nơi Tôn Trung Sơn từng lựa chọn chính là khu vực chùa Bán Sơn trên Chung Sơn.
Tống Khánh Linh, Tôn Khoa và đại diện ban tang lễ sau đó trực tiếp tới núi Tử Kim khảo sát. Cuối cùng, địa điểm được xác định chính là nơi Lăng Tôn Trung Sơn tọa lạc ngày nay.
Vì sao Lăng Tôn Trung Sơn không có văn bia?
Lăng Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh uy nghiêm và tráng lệ, nhưng có một điều khá đặc biệt: lăng mộ của một nhà cách mạng có ảnh hưởng lớn như Tôn Trung Sơn lại không có văn bia theo nghĩa truyền thống.
Sau khi công trình hoàn thành, việc dựng một văn bia tóm lược cuộc đời cách mạng của Tôn Trung Sơn được xem là điều cần thiết.
Nhiều người cho rằng người thích hợp nhất để đảm nhiệm công việc này là Chương Thái Viêm, người có quan hệ mật thiết với Tôn Trung Sơn.
Chương Thái Viêm từng cho rằng mình là người hiểu Tôn Trung Sơn sâu sắc và có tư cách viết văn bia cho ông.
Ban tang lễ cũng chính thức mời ông tham gia công việc và soạn văn bia.</>
Tuy nhiên, Chương Thái Viêm vốn bất mãn với Tưởng Giới Thạch và chính sách của ông. Vì vậy, theo nguồn tư liệu này, Tưởng Giới Thạch không đồng ý sử dụng văn bia do Chương Thái Viêm soạn.
Kết quả là sau khi Lăng Tôn Trung Sơn hoàn thành, đình bia vẫn tồn tại nhưng không có văn bia. Cuối cùng, bốn chữ “Thiên hạ vi công” được khắc trong đình để thay thế.
Hai bức tượng Tôn Trung Sơn do ai thực hiện?
Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, tại Lăng Tôn Trung Sơn có hai bức tượng nổi bật: một tượng ngồi đặt ở chính giữa nhà tế lễ và một tượng nằm bằng đá cẩm thạch trắng trong phòng mộ.
Tượng nằm được nhà điêu khắc nổi tiếng người Tiệp Khắc Cao Kỳ thực hiện. Ông trước tiên tạo khuôn mẫu từ di thể Tôn Trung Sơn, sau đó sử dụng đá cẩm thạch trắng Bắc Bình để chế tác trong khoảng một năm ba tháng.
Tượng ngồi trong nhà tế lễ do nhà điêu khắc người Pháp gốc Ba Lan Paul Landowski thực hiện.
Landowski khi đó là một nhà điêu khắc nổi tiếng. Ông đề nghị Tôn Khoa tới Paris làm mẫu vì một số đường nét của Tôn Khoa khá giống cha.
Tôn Khoa mang theo nhiều bức ảnh Tôn Trung Sơn ở các thời kỳ khác nhau.
Sau khi nghiên cứu kỹ các bức ảnh và phác thảo Tôn Khoa, Landowski hoàn thiện ý tưởng tạo hình.
Phần áo dài, mã quái và hoa văn phương Đông trên chiếc ghế thái sư được ông thiết kế với sự hỗ trợ của các học trò người Trung Quốc.
Sau nhiều lần chỉnh sửa, Landowski lựa chọn một khối đá cẩm thạch trắng chất lượng cao của Italia để bắt đầu chế tác.
Sau một năm tám tháng, tượng Tôn Trung Sơn hoàn thành ngày 25/6/1930.
Tượng được đưa về Trung Quốc và ngày 12/11/1930, chính quyền Quốc dân đảng tổ chức lễ khánh thành trọng thể tại nhà tế lễ của Lăng Tôn Trung Sơn.
Đáng chú ý, hai bức tượng lại mặc hai kiểu trang phục khác nhau.
Tượng ngồi mặc áo dài, mã quái, trong khi tượng nằm mặc Trung Sơn trang.
Theo nguồn tư liệu, điều này phản ánh cuộc tranh đấu giữa các phe phái trong Quốc dân đảng sau khi Tôn Trung Sơn qua đời. Tống Khánh Linh và Hà Hương Ngưng chủ trương giữ hình ảnh hiện đại, để Tôn Trung Sơn mặc Trung Sơn trang; trong khi Tưởng Giới Thạch và Hồ Hán Dân thiên về trang phục truyền thống.
Hai bên tranh luận gay gắt và cuối cùng xuất hiện hai hình tượng Tôn Trung Sơn với hai cách ăn mặc khác nhau.
Giọng nói của Tôn Trung Sơn được lưu lại như thế nào?
Khi Tôn Trung Sơn hoạt động cách mạng, kỹ thuật ghi âm trực tiếp vẫn chưa phổ biến. Vì vậy, phần lớn tư liệu còn lại chỉ là ảnh và phim không có tiếng.
Sau này, người ta phát hiện hai đĩa hát ghi lại bài diễn thuyết của Tôn Trung Sơn.
Hai bản ghi được Thẩm Trác Ngô của tờ Trung Quốc Vãn Báo ghi lại tại Thượng Hải vào năm 1924.
Khi công nghệ ghi âm mới du nhập vào Trung Quốc, Thẩm Trác Ngô vốn rất kính trọng Tôn Trung Sơn nên quyết tâm lưu giữ giọng nói của nhà cách mạng này.
Ông mang kỹ thuật viên tới Quảng Châu và liên hệ với Tôn Khoa cùng Đới Quý Đào để đề nghị ghi âm.
Tôn Trung Sơn đồng ý.
Ngày 30/5/1924, tại Câu lạc bộ Nam Đê ở Quảng Châu, Tôn Trung Sơn đọc bài “Cáo giới đồng chí” trước máy hát và ghi được bốn bản gốc.
Sau khi trở về Thượng Hải, Thẩm Trác Ngô cho sản xuất hai đĩa hát mang tên “Cáo giới đồng chí” và “Khuyến lệ quốc dân”.
Theo nguồn tư liệu, hai đĩa hát này sau đó từng bị gãy làm đôi, nhưng khi ghép lại vẫn có thể phát âm thanh và chất lượng tiếng tương đối rõ.
Người nghe có thể nhận ra Tôn Trung Sơn sử dụng tiếng Quan thoại pha giọng địa phương.
Hai chiếc đĩa từng được một quan chức Quốc dân đảng tên Lam Kim Hoa lưu giữ. Trước khi qua đời năm 1952, ông trao lại cho cháu trai Lam Tán Ngọc.
Sau đó, Lam Tán Ngọc hiến tặng chúng cho Nhà nước.
Ngày nay, khi tham quan Nhà cũ Tôn Trung Sơn, người ta vẫn có thể nghe lại giọng nói trầm hùng của ông qua bản sao từ những chiếc đĩa cổ: “Nếu tất cả chúng ta cùng thức tỉnh, Trung Quốc mới có hy vọng…”
Đó là một trong những âm thanh hiếm hoi còn lại giúp hậu thế hình dung trực tiếp về giọng nói của Tôn Trung Sơn.
BÍ ẨN LĂNG MỘ TÔN TRUNG SƠN - TRUNG QUỐC | ĐẦU TƯ KHỦNG, NHÀ THIẾT KẾ QUA ĐỜI VÌ KIỆT SỨC
Cuộc đời & sự nghiệp TÔN TRUNG SƠN - Người được cả Trung Quốc tôn kính
Hé Lộ Chuyện TỐNG KHÁNH LINH Chọn Đất Phong Thủy Đặt Mộ TÔN TRUNG SƠN Tụ Khí Long Mạch Cả Trung Quốc
Nguồn: Tôn Trung Sơn qua đời, vì sao phải thay tới 4 cỗ quan tài, thi hài của ông hiện ở đâu?






































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn