Ông Mai Liêm Trực: Còn nhớ hồi tháng 5.1991, khi đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện kiêm Giám đốc Công ty Viễn thông quốc tế

- Bức tranh viễn thông nhìn qua cửa sổ hôm nay có lẽ đã rất khác thời điểm cách đây gần 30 năm, khi “ông trùm viễn thông” Mai Liêm Trực vượt qua các rào cản trên hành trình đưa Internet và điện thoại di động về Việt Nam?
- Ông Mai Liêm Trực: Còn nhớ hồi tháng 5.1991, khi đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện kiêm Giám đốc Công ty Viễn thông quốc tế, tôi đi dự một cuộc họp tại Washington (Mỹ) về thông tin vệ tinh. Tại đây, các đoàn Australia, Mỹ... giới thiệu với tôi về Internet. Đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với Internet. Đây cũng là thời kỳ đầu phát triển Internet trên thế giới.
Là người trong nghề bưu điện, lo giao chuyển thư từ trong nước - quốc tế, miền núi - hải đảo, lo truyền dữ liệu in báo Nhân Dân từ Hà Nội vào Đà Nẵng và TP HCM vốn rất khó khăn, nên khi thấy có e-mail tôi sướng lắm! Thư có thể gửi đến ngay chứ không phải mất hàng tuần, hàng tháng mới tới nơi. Tôi thấy công nghệ mới rất hấp dẫn. Điều đó cũng phù hợp với chủ trương của ngành bưu điện là đưa tất cả những gì mới nhất, hiện đại nhất của thế giới về Việt Nam. Vậy là đặt quyết tâm đưa Internet về Việt Nam.
Thời điểm đó, có hai việc lớn. Thứ nhất là về công nghệ, thứ hai là về chính sách của nhà nước. Vấn đề công nghệ là Internet lúc ấy phải gọi qua mạng điện thoại (dial-up). Hiểu nôm na là ai có điện thoại, có đường dây điện thoại, có một cái máy tính và modem kết nối vào thì mới truy cập được Internet. Muốn đưa Internet về Việt Nam thì mạng điện thoại phải tự động hoá, số hoá được thì càng tốt bởi Internet không qua tiếp dây của điện thoại viên được. Phải giải quyết bài toán tự động hoá, số hoá toàn bộ mạng điện thoại ở Việt Nam, để tự động hóa trong nước và kết nối thuận lợi với quốc tế. Việc đó đến năm 1995 thì xong.

Còn việc lớn liên quan đến chính sách của nhà nước, tức là phải được cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước cho phép mới làm được. Chúng tôi phải báo cáo giải trình rất nhiều với các vị lãnh đạo nhà nước. Dù rất vất vả nhưng tôi luôn nói với anh em: “Mình không thuyết phục được các cụ là mình dở! Mình không có gan để nói thẳng với các cụ những thứ mình có thể đảm bảo”.
May mắn là lúc đó Việt Nam bắt đầu hội nhập quốc tế, đã tham gia vào ASEAN. Chúng tôi thuyết minh là nếu không có Internet thì rất khó cho sự hội nhập quốc tế của Việt Nam. Và rồi chúng tôi đã được Bộ Chính trị ủng hộ, nhưng còn nhiều dè dặt với phương châm quản lý “quản đến đâu thì mở tới đó”, nói cách khác nghĩa là không quản được thì cấm.
Tôi vẫn còn nhớ kỷ niệm cách đây gần 30 năm, sau khi thuyết phục được Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, tôi tiếp tục sang báo cáo Thủ tướng Phan Văn Khải. Trước khi tiễn chúng tôi ra về, Thủ tướng đặt tay lên vai tôi vỗ vỗ động viên bảo: “Trực cố gắng quản lý cho tốt, chứ nếu mở ra rồi lại phải đóng lại thì không biết phải ăn nói với thế giới thế nào”.
Thủ tướng nói một câu nhẹ nhàng mà tôi thấy nặng hơn cả cái nghị quyết! Ngày 19/11/1997, Việt Nam chính thức khai trương kết nối dịch vụ Internet toàn cầu.

- Như vậy vấn đề chính sách gỡ chậm hơn vấn đề kỹ thuật tới 2 năm. Sau khi gỡ xong, Internet Việt Nam đã có đủ điều kiện phát triển chưa, thưa ông?
- Ông Mai Liêm Trực: Vẫn còn phải gỡ tiếp tục. Vấn đề liên quan tới phương châm “quản đến đâu thì mở tới đó”, thể hiện trong nghị định, quy chế tạm thời của Chính phủ. Suốt 3 năm chúng tôi không mở được cafe Internet vì phía công an nói không quản được.
Sau 1997, chúng tôi vẫn tiếp tục thuyết phục các vị lãnh đạo trong Bộ Chính trị, thể hiện trong Chỉ thị 58-CT/TW mà tôi có tham gia góp ý trực tiếp. Cũng phải mất thời gian, chúng ta mới thay đổi phương châm quản lý “quản đến đâu thì mở tới đó” sang quan điểm “phát triển đến đâu quản đến đó”, tức là năng lực quản lý phải theo kịp với yêu cầu phát triển, cởi trói cho Internet.


- Thời gian qua đi, điều gì khiến ông cảm thấy tự hào nhất khi chứng kiến tốc độ phát triển của Internet tại Việt Nam?
- Ông Mai Liêm Trực: Trong quá trình phát triển Internet tại Việt Nam, tôi cảm thấy may mắn và rất vui khi Internet phát triển thuận lợi nhất so với các nước, đặc biệt giá cả thì rẻ vô cùng. Lúc này, có thể thấy wifi miễn phí khắp nơi ở Việt Nam – điều không thể có được ở Mỹ, các nước châu Âu, châu Á và các nước trong khu vực vốn giá cả Internet rất đắt đỏ.
Hằng ngày, sáng sớm, tôi mở cửa sổ phòng mình, nhìn ra bên ngoài thấy các anh xe ôm, các chị đồng nát ngồi bấm bấm điện thoại nhoay nhoáy, “alo, alo”. Đi ra chợ, các chị bán rau cũng dùng QR Code thanh toán hết, mình thấy vui vô cùng. Mình cảm thấy đã làm được gì cho dân và người dân sử dụng nó hiệu quả, mình mừng! Đó là vui nhất, không phải niềm vui một lúc mà là niềm vui hằng ngày, vì thấy mình có một phần đóng góp trong đó. Từ năm 1995, ngành bưu điện đã được nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng là huân chương cao nhất, được đánh giá là đi đầu trong sự nghiệp đổi mới.
Một điểm nữa phải nhắc tới chính là cơ chế độc quyền doanh nghiệp. Tôi có thời gian làm Tổng giám đốc VNPT, sau làm Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, là người trong cuộc nên tôi rất hiểu chuyện đó. Dù ngành đang phát triển tốt nhưng tôi biết đã có những yêu tố trì trệ, cửa quyền, đã thấy sự thoả mãn, hài lòng.
Khi làm Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, tôi tạo cơ chế cạnh tranh. Năm 1997 khi mở Internet, trong một ngày tôi ký 4 cái giấy phép cho 4 doanh nghiệp cùng làm là VNPT, FPT, NetNam và Sài Gòn Net, sau đó thì cấp cho Viettel.
Thí điểm mở cửa thị trường Internet thành công, mấy năm sau tôi mở luôn thị trường viễn thông, cấp phép cho Viettel, FPT, một số doanh nghiệp làm viễn thông, làm di động luôn.
Nhờ có cạnh tranh, huy động được nguồn lực của xã hội, của nhiều doanh nghiệp nên giá cả, dịch vụ ở ta tốt. Từ đó, số lượng người sử dụng Internet, di động của Việt Nam tăng rất nhanh, rất nhanh, rất nhanh.
- Để có đủ quyết tâm vượt qua rất nhiều rào cản, đưa Internet về Việt Nam, chắc hẳn ông có “biệt nhãn” với công nghệ này? Từ cách đây nhiều năm, ông nhìn thấy tiềm năng gì ở Internet, nhất là ý nghĩa của nó đối với sự phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số ở nước ta?
- Ông Mai Liêm Trực: Tôi cho rằng Internet là một thành tựu vĩ đại về công nghệ của thế giới. Đó cũng là một kỳ quan nhân tạo của nhân loại, bổ sung cho loài người một không gian sống mới là không gian mạng, bên cạnh không gian vật lý, sinh học như đã có từ hàng nghìn năm.
Tôi cũng như nhiều người cùng thế hệ từng tham gia vào công cuộc này cũng không thể ngờ, không thể hình dung Internet phát triển nhanh đến vậy, phát triển rất nhanh về công nghệ, dịch vụ. Điều đó kéo theo việc thay đổi toàn bộ cách sống, làm việc, học tập, nghiên cứu khoa học, làm ăn kinh doanh, giao tiếp, vui chơi giải trí… của con người.
Ở đây cần làm rõ sự phát triển của Internet trong từng giai đoạn. Internet trong 15-20 năm đầu là Internet kết nối con người với con người, kết nối với nhau để giao tiếp, làm việc. Cái đó đã vĩ đại!

Internet còn tạo điều kiện cho khoa học công nghệ phát triển, từ thông tin tư liệu, công cụ tìm kiếm, trao đổi thông tin… Nó là một trường phục vụ cho nghiên cứu phát triển, phục vụ cho làm ăn ví dụ như công nghệ phần mềm. Internet tạo điều kiện cho nhiều ngành thay đổi, phát triển. Đó là mức phát triển cuối cùng của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 3.
Trong khoảng 10 năm nay, Internet không còn dừng ở kết nối con người mà đã sang Internet kết nối vạn vật (IoT). Đó là giai đoạn phát triển thứ 2, đưa Internet lên một mức cao hơn. Vì Internet kết nối vạn vật nên nó tạo ra một nguồn dữ liệu vô cùng lớn, là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4.
IoT có tính chất cách mạng về dữ liệu. Vì dữ liệu lớn nên phải được hỗ trợ, xử lý bằng các công nghệ số khác như công nghệ về điện toán đám mây, công nghệ blockchain và đặc biệt là công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI).

- Nhắc tới IoT và các công nghệ đang nổi lên trên phạm vi toàn cầu như blockchain, AI, ông nhận định thế nào về cơ hội và vị thế của Việt Nam?
- Ông Mai Liêm Trực: Đóng góp của Internet giai đoạn đầu là tạo nên số hóa, phát triển mạnh các dịch vụ công nghệ thông tin, là công cụ, phương tiện để con người tăng năng suất lao động, có thể giao tiếp, nghiên cứu, học tập hiệu quả.
Còn với IoT và các công nghệ số khác phát triển dẫn tới sự thay đổi về chất, không những là số hoá quy trình, mà thay đổi cả quy trình, chuyển đổi, thay đổi mô hình quản trị quốc gia, mô hình quản trị doanh nghiệp, mô hình quản lý trường học, ngành y tế, giáo dục...
Đóng góp quan trọng nhất của IoT và công nghệ số là chuyển đổi số và phát triển công nghiệp công nghệ số, phát triển toàn diện các lĩnh vực. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các cơ quan đều phải chuyển đổi số. Bản thân nó cũng tạo nên sự phát triển các ngành công nghệ, kể cả công nghệ sinh học, công nghệ bán dẫn, công nghệ trí tuệ nhân tạo. Ngành công nghiệp công nghệ số là ngành chủ yếu trong quá trình công nghiệp hóa hiện nay.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Chúng ta đều thấy rõ rằng, với 3 cuộc cách mạng công nghệ trước, do điều kiện lịch sử, phong kiến, chiến tranh, Việt Nam không tham gia được bao nhiêu. Chỉ từ cuối cuộc cách mạng lần thứ 3, Việt Nam mới tham gia được vào Internet, số hóa… Nhưng ở cuộc cách mạng lần thứ 4 này, đứng ở góc độ thời cơ, có thể nói Việt Nam cùng xuất phát với mọi quốc gia khác, mặc dù năng lực yếu hơn. Đó là điều may mắn và nếu không dấn thân để làm bằng được thì đất nước vẫn sẽ trong nhóm thu nhập trung bình, tụt hậu, hay nói cách khác là một lần nữa lại lỡ con tàu phát triển của nhân loại.

- Xin hỏi ông một câu riêng tư: Điều gì đã đưa một cậu bé sinh ra ở vùng quê Bình Định trở thành một người kiến tạo, đặt nền móng và thúc đẩy một ngành công nghiệp công nghệ số hiện đại như ngành viễn thông và Internet?
- Ông Mai Liêm Trực: Tôi sinh ra trong một gia đình đông con. Trong gia đình, ông nội và ba tôi rất coi trọng chuyện học hành. Ông nội đặt tên anh cả của tôi là Mai Kỷ, nghĩa là phải sống cho có kỷ cương. 5 anh em trai sau đều tên là Trực do ba đặt, với ý nghĩa sống sao cho cương trực. Tính cách của gia đình, anh em tôi được ông nội và ba má rèn luyện từ nhỏ, dù tôi không sống ở gia đình nhiều, có 10 năm đầu đời thôi. Ảnh hưởng từ truyền thống gia đình sống kỷ cương, ngay thẳng, ham học là những phẩm chất cốt lõi theo suốt cuộc đời tôi, giúp tôi cố gắng trưởng thành, đóng góp cho xã hội.
Năm 1954, sau hiệp định Geneve, theo tiêu chuẩn dành cho con cán bộ kháng chiến, tôi được cử ra Bắc học trong trường học sinh miền Nam 8 năm, sau đó sang Dresden (Đức) học Đại học chuyên ngành vô tuyến điện. Học xong, tôi về nước công tác. Sau khi đất nước thống nhất. năm 1975, tôi quay lại Đức làm nghiên cứu sinh. Nhờ đó, tôi có nền tảng kỹ thuật để tiếp nhận công nghệ về sau này.
Ông Mai Liêm Trực: Còn nhớ hồi tháng 5.1991, khi đang là Phó tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện kiêm Giám đốc Công ty Viễn thông quốc tế


- Sau rất nhiều cống hiến cho sự phát triển khoa học công nghệ, đến lúc này nền khoa học công nghệ nước ta còn điều gì khiến ông trăn trở, suy nghĩ?
- Ông Mai Liêm Trực: Điều tôi trăn trở là Việt Nam với dân số 100 triệu dân, đất nước ta tài nguyên còn nhiều, điều kiện thiên nhiên thuận lợi; trước đây nghèo khổ vì thuộc địa, chiến tranh, sau gần 40 năm đổi mới đã có cải thiện đáng kể; nhưng ngành khoa học công nghệ Việt Nam vẫn chưa tạo được sản phẩm gì mang thương hiệu quốc tế.
Gần đây, Việt Nam có những doanh nghiệp như Viettel, tạo được thương hiệu ở 11 thị trường nước ngoài, nhưng cũng chỉ ở trong khuôn khổ chục nước đó thôi.
FPT cũng đạt doanh thu hơn 1 tỉ USD về xuất khẩu phần mềm, cũng là tiến bộ, nhưng so với các doanh nghiệp lớn trên thế giới thì còn khoảng cách quá xa.
Có lẽ thương hiệu Việt nổi tiếng bậc nhất thế giới chỉ có phở. Còn những sản phẩm đặc hiệu Việt Nam chưa có.
Tôi hy vọng trong khoảng 5 - 10 năm tới trong cuộc chuyển mình này, Việt Nam sẽ có những doanh nghiệp lớn hàng đầu thế giới, có những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.
Không chỉ khoa học công nghệ, mà cả trong những ngành nông nghiệp, giống gì của Việt Nam vươn ra thành giống của thế giới; sản phẩm gì của Việt Nam là sản phẩm đặc hiệu trên toàn cầu, mà nói đến nó là nói đến Việt Nam. Đất nước ta xứng đáng có những thương hiệu như vậy.

Ông Mai Liêm Trực đang trò chuyện với phóng viên Một Thế Giới - Ảnh: Hà Tuấn
- Ông mong muốn sản phẩm nào sẽ mang thương hiệu Việt Nam trên thế giới?
- Ông Mai Liêm Trực: Đây là câu hỏi khó! Nhưng tôi nghĩ là về AI, Việt Nam có thể có trong 5 - 10 năm nữa. Bởi lẽ đi vào công nghệ phần cứng truyền thống như trước đây, Việt Nam gần như không có. Không có công nghiệp cơ khí hiện đại, công nghiệp hỗ trợ còn yếu, nhưng công nghệ phần mềm, công nghiệp trí tuệ mình làm tốt, bắt đầu có thứ hạng trên thế giới, mà AI dựa rất nhiều công nghệ phần mềm.
Có thể Việt Nam sẽ là trung tâm của khu vực về AI. Tôi đã chia sẻ quan điểm này với một số nhà khoa học, một số doanh nghiệp và họ cũng có ước mơ đó.
- Đúng là lúc này, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) được nhắc tới rất nhiều. Có người bảo “AI không thay thế con người nhưng nếu con người không biết AI thì sẽ bị thay thế”. Ông nhìn nhận ra sao về việc đưa AI vào dạy học trong nhà trường, từ cấp tiểu học?
- Ông Mai Liêm Trực: Sức mạnh của AI, tác động mạnh của AI trong đời sống xã hội là không còn phải bàn cãi và nhiều nước đã đưa AI vào dạy trong các cấp học ở nhà trường. Người ta bảo “AI không thay thế con người nhưng nếu con người không biết AI thì sẽ bị thay thế” là hoàn toàn đúng.
Về mặt ứng dụng công nghệ thông tin, thời xưa đi làm việc phải có cây bút, thời kỳ đầu của internet đi làm việc phải biết sử dụng vi tính, thì bây giờ, ở giai đoạn 2 phát triển internet, đi làm việc phải có AI. AI làm trợ lý cho con người rất tốt, nó trở thành một công cụ tốt giống như cây bút, máy tính trước đây.
Theo một số liệu thống kê, 70% người dùng internet của Việt Nam hiện nay, khi vào chỗ làm việc, người ta đã phải sử dụng AI, không biết là không được!
AI khác những công nghệ khác là ở chỗ nó phát triển tư duy. Các công nghệ khác chủ yếu là thay đổi lao động chân tay của con người; còn AI thay đổi một phần lao động trí óc của con người. AI không thay được toàn bộ con người vì nó không có cảm giác, không có cảm xúc. Trong làm ăn, giao tiếp khách hàng, khách hàng vẫn muốn giao tiếp với con người trực tiếp. Bệnh nhân cũng cần những lời khuyên trực tiếp từ bác sĩ chứ không phải nói chuyện với cái máy…
Vậy nên, cho học sinh học AI từ cấp tiểu học là một điều cần thiết, giúp phát triển tư duy từ nhỏ, tạo ra đam mê, điều đó rất quan trọng. Với đam mê kiến thức, trí tuệ, cùng tư duy phát triển, các em khi trưởng thành sẽ là con người thành đạt, con người nắm được tương lai. Tôi rất ủng hộ, khuyến khích đưa AI vào trường học.

- Cùng với việc tiếp cận công nghệ rất sớm, một bộ phận không nhỏ các em lại bị cuốn vào các nội dung giải trí vô bổ, thậm chí độc hại. Ông nghĩ sao về trách nhiệm của nhà quản lý và cộng đồng trong việc định hướng, “dẫn đường” cho thế hệ trẻ?
- Ông Mai Liêm Trực: Khi đưa internet vào Việt Nam, chúng tôi đã phải báo cáo giải trình với Bộ Chính trị những giải pháp ngăn chặn thông tin độc hại, bảo vệ bí mật quốc gia. Không những Việt Nam và các nước trên thế giới đều phải đối mặt với điều này và mỗi nước có một cách quản lý và hạn chế tiêu cực.
Đặc biệt lúc này cùng với internet, AI cũng rất dễ bị lạm dụng, lừa đảo. Và các khung pháp lý, khung đạo đức và các hướng dẫn trong giáo dục đào tạo con người là vô cùng quan trọng.
Những giải pháp kỹ thuật là có, AI cũng tạo nên được giải pháp ngăn chặn lừa đảo từ chính AI. Theo tôi, vẫn là 3 giải pháp. Thứ nhất là các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để hạn chế lạm dụng như trong internet có chống hacker, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ mạng, bức tường lửa. Thứ hai là những hành lang pháp lý, quy chế tiếp cận. Mỗi nước có một cách tiếp cận khác nhau, có khung pháp lý, khung đạo đức khác nhau. Ở Việt Nam, rất tiếc là chưa có khung pháp lý, khung đạo đức chung về AI. Thứ ba là tuyên truyền giáo dục, đào tạo, hướng dẫn. Internet lúc đầu vào Việt Nam tôi cũng lo lắm, nhiều em nằm ngủ ở quán net để chat, chơi game, nhiều gia đình lao đao.
Nhưng dần dần, cùng với sự phát triển, các bạn trẻ có chơi game suốt ngày đâu và lúc này vào mạng để xem Tiktok, Youtube. Ở góc độ khác, tôi thấy chơi game cũng có cái tốt, nhiều cháu trưởng thành nhờ chơi game đó!
.jpg)

- Trong một cuộc họp sơ kết việc triển khai Nghị quyết 57 gần đây, người ta tổng kết rằng trong số 600 việc phải làm thì các cấp, các ngành mới làm được 103 việc. Còn lại gần 500 việc đang bị nghẽn, mà các mục tiêu đặt ra đều cao và phải làm thật nhanh. Theo ông phải gỡ những điểm nghẽn này như thế nào cho nhanh nhất?
- Ông Mai Liêm Trực: Thứ nhất, điểm nghẽn này là do sức mạnh nội tại của các đơn vị làm việc trực tiếp, kể cả Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Thông tin - Truyền thông trước đây, hay các ngành, địa phương, doanh nghiệp công nghệ của Việt Nam. Nhưng cái quan trọng hơn là nếu thể chế chưa thay đổi thì chưa thể làm được.
Cải cách tinh gọn bộ máy như là tạo dựng được một chiếc xe tốt, hiện đại, đầy đủ tính năng. Nhưng xe muốn chạy nhanh không gây tai nạn thì đường sá phải thông thoáng, luật lệ giao thông phải rõ ràng, và lái xe phải vững tay, tay nghề phải giỏi.
Thể chế, các luật chơi công khai, minh bạch, thuận lợi, hành lang pháp lý thông thoáng thì “xe” mới chạy nhanh được. Chứ nhiều ổ gà quá, “xe” không chạy nổi.
Đứng về phía các doanh nghiệp tư nhân, tôi biết họ có khát vọng rất lớn. Thế hệ trẻ của mình giỏi lắm! Nhưng thể chế của mình chưa minh bạch nên người ta rất ngại.
Tôi thấy các nghị quyết thời gian qua rất đúng, tạo điều kiện cho sự phát triển. Cùng với Nghị quyết 57 là Nghị quyết 66 thay đổi về thể chế, Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, Nghị quyết 18 tinh gọn sắp xếp lại bộ máy. Công việc này đáng lý chúng ta cần làm từ năm 2016 khi công nghệ cách mạng lần thứ 4 vào Việt Nam. Đến nay chúng ta mới chuyển mình là hơi chậm, lỡ mất 8 - 9 năm, vậy nên “vừa chạy vừa phải xếp hàng”.
Tôi cho rằng 5 năm sắp tới, từ 2026 đến 2030 có ý nghĩa quyết định. Nếu chúng ta không có những bước chuyển cơ bản, không tạo đủ đà thì không thể đạt được mục tiêu năm 2045.

- Các nhà khoa học có tiền mà không tiêu được vì những thủ tục pháp lý quá rườm rà cũng là một điểm nghẽn. Nguyên là một nhà khoa học và cũng là một nhà quản lý, ông đề xuất gì để các nhà khoa học có thể tiêu tiền cho khoa học?
- Ông Mai Liêm Trực: Đây là điểm nghẽn về cơ chế, cụ thể chính là luật ngân sách nhà nước. Tiền chi cho khoa học công nghệ theo luật ngân sách. Tôi đề xuất là chuyển sang hình thức quỹ - Quỹ phát triển khoa học công nghệ. Lúc đó thủ tục sẽ khác. Thay đổi cách thức quản lý nguồn ngân sách ấy thì mới có thể thuận lợi giải ngân được.
Tiếp theo là phải chấp nhận rủi ro. Nếu yêu cầu theo luật ngân sách là chi cho từng công trình, từng đề tài phải có hiệu quả kinh tế, không có hiệu quả coi như thất thoát. Vậy thì ai dám làm?
Một điểm nữa là phân bổ ngân sách, phân bổ quỹ này phải hợp lý hơn. Lâu nay phân rải cho các địa phương, các bộ ngành chủ yếu theo đề tài, không có hiệu quả. Bây giờ quản lý quỹ phải theo các dự án và có sự tập trung nhất định.
Ví dụ về nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo thì phải thấy lực lượng nòng cốt là doanh nghiệp tư nhân, nhà nước không phải đầu tư vào đó nhiều.
Nhà nước đầu tư phòng thí nghiệm cho các trường đại học. Các trường đại học lâu nay học chay nhiều, nghiên cứu ít; trong khi các viện lại chới với lo đề tài. Chúng ta cần kết hợp lại, giúp các trường thành các trung tâm nghiên cứu chứ không chỉ có dạy học. Các chính sách phải thay đổi thì mới tiêu được tiền của quỹ.

- Nghị quyết 57 cũng kêu gọi và cho phép các tổ chức xã hội nghề nghiệp mạnh dạn tham gia vào sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ. Với kinh nghiệm của ông, một tổ chức như Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam có thể tham gia vào sự nghiệp này như thế nào để đạt được hiệu quả?
- Ông Mai Liêm Trực: Đứng về quản trị quốc gia thì các tổ chức, hiệp hội đóng vai trò quan trọng trong quản lý xã hội, gánh đỡ một phần cho quản lý nhà nước. Trong trường hợp cụ thể là Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) - nơi tập hợp được ý kiến các nhà khoa học với nguồn dữ liệu thông tin rất lớn - có thể tham mưu về chính sách, đóng góp nhiều ý kiến, thậm chí là phản biện cho các nghị quyết như Nghị quyết 57.
Nhà nước, ngoài việc phân cấp phân quyền từ trên xuống dưới, nên chuyển một số vai trò cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Nói cách khác là giao việc nhiều hơn cho các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Điều này tốt, huy động được sức dân.
Tôi ví dụ như trong bóng đá, Liên đoàn Bóng đá Việt Nam (VFF) đang làm tốt chứ! VFF không lấy ngân sách nhà nước mà toàn huy động từ xã hội. Hồi trước cứ đưa quan chức vào làm Chủ tịch VFF và tôi cũng từng làm. Bây giờ cứ để cho những người làm bóng đá thực sự, họ làm rất tốt.

- Nếu cần gửi một thông điệp đến thế hệ trẻ đang học tập và làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ ở Việt Nam, ông sẽ nói gì?
- Ông Mai Liêm Trực: Thế hệ của chúng tôi là thế hệ của chiến tranh, bao cấp, sau này may mắn tiếp cận vào thời kỳ đổi mới. Với sự dấn thân, ham học hỏi mà mình có đóng góp nhất định, cả trong chiến tranh và thời bình.
Đóng góp chủ yếu của thế hệ chúng tôi là nỗ lực đưa những cái gì hay, hiện đại nhất của thế giới về Việt Nam. Từ công nghệ, dịch vụ, thông tin vệ tinh, di động, internet… Tôi nghĩ đó là sứ mệnh, nhờ dấn thân, ham học hỏi nên cũng đã tham gia vào quá trình đổi mới của đất nước. Nhưng điều đó chỉ giúp Việt Nam thoát nghèo và phát triển ở mức trung bình. Bởi dù gì đó cũng là đi mang của thế giới về.
Trong cuộc chuyển mình của đất nước lần này, tôi hy vọng và tin tưởng thế hệ trẻ Việt Nam không những đưa được cái hay của thế giới về nước, mà còn kiến tạo nên những giá trị của Việt Nam, những sản phẩm, dịch vụ, công trình khoa học công nghệ, tác phẩm văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ra thế giới.
Chỉ khi đó, Việt Nam mới gọi là “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Lúc đó đất nước mới giàu mạnh, văn minh.
- Muốn đáp ứng được kỳ vọng của thế hệ đi trước, giới trẻ Việt Nam phải trau dồi thêm những điều gì, thưa ông?
- Ông Mai Liêm Trực: Tôi được học trong trường học sinh miền Nam, ở tập thể nội trú suốt 8 - 9 năm. Hồi đó, Bác Hồ đến thăm nhiều lần, được các thầy cô dạy: Thứ nhất là tính trung thực, thứ hai là lòng biết ơn, thứ ba là ý thức tập thể và thứ tư là tinh thần dấn thân trong công việc. Đó là những phẩm chất mà tôi nghĩ rằng thế hệ trẻ hiện nay cần được chú trọng đào tạo và rèn luyện. Cùng với đó, thông thạo ngoại ngữ cũng rất quan trọng.
- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện cởi mở, thẳng thắn. Xin chúc ông thật nhiều sức khỏe để tiếp tục có những đóng góp cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ Việt Nam.
Nguồn: Thứ nhất là tính trung thực, thứ hai là lòng biết ơn, thứ ba là ý thức tập thể và thứ tư là tinh thần dấn thân trong công việc. Đó là những phẩm chất mà tôi nghĩ rằng thế hệ trẻ hiện nay cần được chú trọng đào tạo và rèn luyện. Cùng với đó, thông thạo ngoại ngữ cũng rất quan trọng.





































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn