
Lưu Quang Vũ- Nhớ một người thơ đắm đuối đất nước mình
Lưu Quang Vũ
Sinh: 17 tháng 4, 1948
Phú Thọ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Mất 29 tháng 8, 1988 (40 tuổi)
Hải Dương, Việt Nam
Quốc tịch: Việt Nam
Nghề nghiệp:
Nhà văn, Nhà thơ, Nhà soạn kịch
Năm hoạt động: 1965 – 1988
Tác phẩm nổi bật: Mùa hè đang đến, Hương cây, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta
Quê quán: Đà Nẵng, Việt Nam
Phối ngẫu: Tố Uyên (cưới 1969–1972)
Xuân Quỳnh (cưới 1973–1988)
Con cái: 2 (bao gồm Lưu Minh Vũ và Lưu Quỳnh Thơ)
Lưu Quang Vũ (17 tháng 4 năm 1948 – 29 tháng 8 năm 1988) là một cố nhà văn, nhà soạn kịch kiêm nhà thơ người Việt Nam.
Tiểu sử và sự nghiệp
Lưu Quang Vũ sinh tại xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ nhưng quê gốc lại ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, là con trai nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh, và tuổi thơ sống tại Phú Thọ cùng cha mẹ. Khi hoà bình lập lại (1954) gia đình ông chuyển về sống tại Hà Nội. Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của ông đã sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê trung du Bắc Bộ đó đã in dấu trong các sáng tác của ông sau này.
Từ 1965 đến 1970 ông nhập ngũ, phục vụ trong Quân chủng Phòng không-Không quân. Đây là thời kỳ thơ Lưu Quang Vũ bắt đầu nở rộ.
Từ 1970 đến 1978: xuất ngũ và làm đủ mọi nghề để mưu sinh, làm ở Xưởng Cao su Đường sắt do Tạ Đình Đề làm Giám đốc, làm hợp đồng cho nhà xuất bản Giải phóng, chấm công trong một đội cầu đường, vẽ pa-nô, áp-phích,...
Từ 1978 đến 1988: Lưu Quang Vũ làm biên tập viên Tạp chí Sân khấu, bắt đầu sáng tác kịch nói với vở kịch đầu tay Sống mãi tuổi 17 viết lại theo kịch bản của Vũ Duy Kỳ.
Qua đời
Giữa lúc tài năng đang vào độ chín, Lưu Quang Vũ qua đời trong một tai nạn ô tô trên quốc lộ số 5 tại Hải Dương, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai Lưu Quỳnh Thơ.
Theo lời kể của họa sĩ Doãn Châu, người đã đi cùng ông trên chuyến xe cuối cùng, thì vụ tai nạn được tóm tắt như sau:
"Chiều 29/8, chiếc xe chở hai gia đình về Hà Nội. Dọc đường đến cầu Lai Vu, xe đỗ, mấy phụ nữ xuống mua một rổ ổi. Lúc đó Mí và Vinh ngồi đánh cờ phía băng ghế bên phải. Ông Châu và Lưu Quang Vũ kẻ nằm người ngồi dưới sàn xe còn Xuân Quỳnh và bà Bích Thu ngồi phía băng ghế đối diện. Xe qua cầu Phú Lương, đi trên đường vừa hẹp vừa xuống dốc. Trước mặt có chiếc xe Kamaz đang đi chầm chậm. Đường dốc nên xe nào qua đây cũng phải thận trọng.
Bất chợt, có hai phụ nữ đội nón đèo nhau trên xe đạp, lao từ đê xuống đường, cắt qua mặt xe Kamaz, chiếc xe này phanh khựng lại. Người lái chiếc xe com-măng-ca đang bám sau định đánh tay lái vượt lên. Và chỉ trong tích tắc ấy, một chiếc xe ben phía sau đã mất phanh đâm sầm vào đuôi chiếc com-măng-ca, đẩy xe này vào gầm xe Kamaz phía trước.
Cả gia đình Lưu Quang Vũ ngồi phía bên phải bị văng xuống đường. Ông Châu xác nhận đó là khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 (trước đây nhiều nguồn tin nói là 15h30 phút).
Sau khi ông mất, đã có nhiều dư luận xung quanh vụ tai nạn này. Có tin cho rằng ông bị ám sát dưới vỏ bọc một vụ tai nạn ô tô được sắp đặt từ trước.
Đánh giá
Các tác phẩm của ông đã để lại một dấu ấn đáng kể trong lòng công chúng Việt Nam. Tác phẩm ông nổi bật lên từ những năm sau chiến tranh, đặc biệt là những năm 80. Ông đã từng sống những năm tháng tuổi trẻ trong chiến tranh, vào bộ đội chiến đấu và trở về sống trong một thời kỳ khó khăn của nước nhà: thời hậu chiến, kinh tế bao cấp với chồng chất khó khăn, cơ cực. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn cũng như in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Với tuổi đời còn khá trẻ, 40 tuổi ông đã là tác giả của gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng. Rất nhiều các tác phẩm của ông đã làm sôi động sân khấu Việt nam thời kỳ đó như: Hồn Trương Ba da hàng thịt, Lời thề thứ 9, Bệnh sĩ, Khoảnh khắc và vô tận, Ông không phải bố tôi, Tôi và chúng ta, Tin ở hoa hồng, Nàng Sita, v.v. Vở kịch đầu tay "Sống mãi tuổi 17" được trao tặng Huy chương vàng Hội diễn sân khấu. Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 (năm 2000) về nghệ thuật sân khấu.
Thơ Lưu Quang Vũ không chỉ bay bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Rất nhiều bài thơ của anh được bạn đọc yêu thích như: Và anh tồn tại, Tiếng Việt, Vườn trong phố, Bầy ong trong đêm sâu.... Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn mang đậm phong cách riêng.
Gia đình Em gái Lưu Quang Vũ là Lưu Khánh Thơ hiện đang công tác tại tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu Văn học của Viện Văn học. Em trai là Lưu Quang Hiệp, từng là hiệu trưởng Trường Đại học Thể dục Thể thao 1.
Lưu Quang Vũ kết hôn 2 lần, lần thứ nhất với diễn viên điện ảnh Tố Uyên năm 1969. Tố Uyên sinh năm 1948. Hai người ly hôn năm 1972 vì không hòa hợp. Lưu Quang Vũ và Tố Uyên có một con trai tên là Lưu Minh Vũ, hiện đang công tác tại Đài Truyền hình Việt Nam.
Lần thứ hai, ông tái hôn với nữ nhà thơ Xuân Quỳnh vào năm 1973. Xuân Quỳnh hơn Lưu Quang Vũ 6 tuổi, đã từng kết hôn và có một con riêng. Tháng 2 năm 1975, họ có với nhau một con trai đặt tên là Lưu Quỳnh Thơ, tên ở nhà là Mí. Lưu Quỳnh Thơ sau đó mất lúc 13 tuổi cùng với cha mẹ trong vụ tai nạn năm 1988.
Tác phẩm
Thơ
Hương cây (1968 - in cùng Bằng Việt trong tập Hương cây - Bếp lửa), 20 bài thơ Mây trắng của đời tôi (1989), 30 bài thơ
Bầy ong trong đêm sâu (1993), 40 bài thơ
Gửi tới các anh (1998)
Di cảo (2008), 29 bài thơ
Những bông hoa không chết (2008), 35 bài thơ
Nhiều bài thơ khác chưa được in thành tập.
Văn
Mùa hè đang đến (truyện, 1983)
Người kép đóng hổ (truyện, 1984)
Một vùng mặt trận (truyện vừa)
Kịch
Sống mãi tuổi 17
Nàng Sita (1982)
Hẹn ngày trở lại
Nếu anh không đốt lửa
Hồn Trương Ba da hàng thịt (1981)
Lời thề thứ 9
Khoảnh khắc và vô tận
Bệnh sĩ (1988)
Chữ cuối
Tôi và chúng ta (1984)
Người tốt nhà số 5
Ngọc Hân công chúa
Linh hồn của đá Ông vua hóa hổ
Vắng mặt trong hồ sơ
Chiếc ô công lý
Ông không phải là bố tôi
Điều không thể mất
Ai là thủ phạm
Chuyện tình bên dòng sông thu
Tin ở hoa hồng (1986)
Hoa cúc xanh trên đầm lầy
Lời nói dối cuối cùng
Nguồn sáng trong đời
Mùa hạ cuối cùng
Người trong cõi nhớ (1982)
Ngọc Hân công chúa (1984)
Tiểu luận, phê bình Diễn viên và sân khấu (cùng viết với Vương Trí Nhàn và Xuân Quỳnh, 1979)
Nhớ một người thơ đắm đuối đất nước mình
Càng về những năm cuối đời, cảm hứng đất nước, dân tộc càng dạt dào trong những câu thơ của Lưu Quang Vũ.
Lưu Quang Vũ ở Matxcơva năm 1985
Ở đó, người ta thấy một dân tộc dặm dài lịch sử, văn hóa; một nhân dân vĩ đại "mở đất bao la", "làm ra tất cả"; và một Lưu Quang Vũ yêu đất nước mình tha thiết. Bài thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi rõ rệt, đậm nét hơn cả về cảm hứng ấy trong thơ của người thi sĩ tài hoa.
Không phải ngẫu nhiên mà tên bài thơ này được chọn là tên một tập thơ của Lưu Quang Vũ xuất bản mới đây và trở thành chủ đề cho đêm thơ nhạc kịch kỷ niệm 75 năm sinh Lưu Quang Vũ và 35 năm mất cặp vợ chồng Vũ - Quỳnh vào tối 16-8 tới tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
Trong chương trình này, ban tổ chức lần đầu lựa chọn đọc nhiều các tác phẩm thơ mang cảm hứng dân tộc, tình quê hương, đất nước của Lưu Quang Vũ như các bài Việt Nam ơi, Người cùng tôi. Còn bài Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi được nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến phổ nhạc theo đặt hàng của gia đình, ca sĩ Mỹ Linh hát.
Có thể đa số người yêu nghệ thuật thường biết đến Lưu Quang Vũ qua những vở kịch gây chấn động bởi tính thời đại và thời sự của nó, nhưng nhiều bạn bè thân thiết của ông thì hiểu rằng thơ mới là niềm yêu thích, là cõi lòng sâu xa nhất của Lưu Quang Vũ kể ra với mọi người.
Nhà thơ Vũ Quần Phương từng nói: Lưu Quang Vũ "viết kịch để sống với mọi người, và làm thơ là để sống cho riêng mình". Thơ là "mây trắng của đời tôi" như chính anh từng lên tiếng.
Sự nghiệp thơ của Lưu Quang Vũ, ngoài mảng thơ lãng mạn thuở ban đầu, hay những vần thơ dằn vặt, đau xót, cô đơn của những năm dông bão đời riêng, trong cơ cực chung của đất nước chiến tranh, thì những năm cuối đời, khi những trải nghiệm, cảm xúc chín đầy, thi sĩ để lại cho đời những bài thơ dạt dào cảm hứng đất nước, dân tộc, nhân dân mà anh suốt đời tôn kính, chịu ơn và tha thiết yêu.
Lưu Quang Vũ ở Lạng Sơn
Em - những năm đau xót và hy vọng
Một ngày năm 1972, trong căn gác nhỏ hơn 6m2 ở 96 Phố Huế, không có điện, ba người đàn ông gồm Lưu Quang Vũ, nhà văn Đỗ Chu và Lâm "râu" - người bạn thân, yêu chiều Lưu Quang Vũ nhất - ngồi trên chiếc chiếu trải giữa nhà.
Bên ngọn đèn dầu và chiếc điếu cày, Lưu Quang Vũ, khi ấy 24 tuổi, ngân lên những vần thơ thổn thức và hào sảng về đất nước nghìn năm mà mình vừa sáng tác - bài Đất nước đàn bầu.
Giữa cuộc vui thì nữ họa sĩ trẻ tài hoa, học trò của bộ tứ Nghiêm - Liên - Sáng - Phái (nhóm "tứ trụ" thế hệ thứ hai của mỹ thuật Việt Nam hiện đại Nguyễn Tư Nghiêm, Dương Bích Liên, Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái) là Nguyễn Thị Hiền, ái nữ của nhà văn Kim Lân, ghé qua theo lời mời của nhà văn Đỗ Chu.
Bức tranh tự họa “Tóc em rối và áo em đỏ thắm” họa sĩ Nguyễn Thị Hiền vẽ từ câu thơ của Lưu Quang Vũ viết về mình
Khi người con gái tài hoa mà Lưu Quang Vũ vẫn thầm yêu mến xuất hiện, chàng thi sĩ đang ở thời kỳ "rách rưới, bơ phờ, cô độc", "thơ hay thời loạn chẳng ai dùng", đọc lại bài thơ không được xuất bản của mình một lần nữa cho nàng thơ mới đến:
"Đi dọc một triền sông/ Những chiếc trống đồng vùi trong cát/ Những mảnh bình vỡ nát/ Những mũi tên lăn lóc/ Khắp đồi núi hoang vu/ Những rìu đá cổ sơ những hang động khổng lồ/ Những đống lửa còn tro tàn sót lại…".
Những vần thơ cuồn cuộn cảm xúc khác lạ với những gì cùng thời về đất nước đã lập tức khiến người con gái "cô đơn như biển lạ lùng" là nàng họa sĩ nổi tiếng tài hoa cũng lập tức trúng tiếng sét ái tình.
Những ngày sau đó là hành trình tình yêu kỳ lạ giữa chàng thi sĩ tài hoa nhưng đang rơi vào vực thẳm đen tối của tuyệt vọng bởi hoàn cảnh riêng cùng những hoang mang về thời cuộc và nàng họa sĩ nổi tiếng.
Hai người gọi đó là một tình yêu "trên cả tình yêu nam nữ", một "tình yêu không năm tháng", tưởng đã bắt đầu từ cả trước khi hai người gặp nhau và sống mãi cùng với những bài thơ hay nhất của Lưu Quang Vũ.
Và cũng là bắt đầu những ngày bất tận câu chuyện nghệ thuật, cuộc sống, đất nước của nhóm bạn văn nghệ sĩ tiên phong mà Lưu Quang Vũ là trung tâm.
Nguyễn Thị Hiền đương nhiên góp mặt như một nghệ sĩ tài năng của hội họa Việt Nam lúc đó, một tâm hồn đồng điệu, một tri kỷ của Lưu Quang Vũ. Trên căn gác của Lâm "râu" ở phố Triệu Việt Vương, Lưu Quang Vũ, Đào Trọng Khánh, Lâm "râu", Bằng Việt, Đặng Nhật Minh, Đỗ Chu, Nguyễn Khắc Phục, Lê Minh Khuê, Phạm Tiến Duật… thường tụ họp trò chuyện văn chương.
Chân dung Lưu Quang Vũ do nàng thơ của ông - họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, vẽ tặng ngày sinh nhật ông 17-4-1973
Lưu Quang Vũ và Nguyễn Thị Hiền chung nhau một cuốn sổ nhỏ, trong đó chàng viết thơ còn nàng vẽ minh họa. Họ hẹn nhau một ngày sẽ cùng xuất bản một tập thơ của chàng với minh họa của nàng. Họ viết, vẽ về nhau, tác phẩm của người này thành nguồn cảm hứng sáng tác của người kia.
Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền có một bộ tranh những con chữ vẽ từ những câu thơ, nét bút của người yêu. Và rất nhiều những cặp tác phẩm thi - họa kiểu nàng sáng tác từ những câu thơ chàng viết ra đời, giống như bức tranh tự họa Tóc em rối và áo em đỏ thắm mà nàng đã vẽ từ câu thơ của chàng và nàng lấy làm tên của bức tranh.
Hay như cặp thi - họa cùng đặt tên chung là Khâm Thiên của chàng và nàng viết, vẽ sau buổi sáng hoang tàn và đau đớn ngất trời ở phố Khâm Thiên bởi trận bom B52.
Sớm ấy, sau trận mưa bom, Lưu Quang Vũ cùng Lâm "râu" chạy vội đến nhà của Nguyễn Thị Hiền ở phố Hạ Hồi, thảng thốt gọi tìm người yêu.
Nàng họa sĩ vẫn yên lành. Ba người họ ôm nhau khóc, rồi cùng nhào tới Khâm Thiên ngút trời thương hận bởi khung cảnh "những người chết trong đêm thân gãy nát". Để rồi sau đó, Khâm Thiên thơ và Khâm Thiên họa cùng ra đời.
Đó là những ngày Lưu Quang Vũ - Nguyễn Thị Hiền chia nhau nỗi khổ đau và niềm cay đắng của tuổi trẻ hoang mang, đổ vỡ, chia nhau "gió lốc", chia nhau những "tối đen thành phố đêm lưu lạc/Máy bay giặc rít ở trên đầu", chia nhau "những câu thơ tuyệt vọng".
Họ cùng nhau đi qua "những năm đau xót và hy vọng" ấy, để chàng đủ rộng lớn và trầm tĩnh bước vào một giai đoạn bừng nở sáng tạo của mình, cho những vở kịch ngồn ngộn hiện thực và đặc biệt là những bài thơ lồng lộng cảm hứng dân tộc, nhân dân ra đời.
Lưu Quang Vũ năm 1963 - Ảnh: Gia đình cung cấp
Để luôn luôn được trở lại với đời
10 năm cuối đời, tưởng như Lưu Quang Vũ dồn hết tâm sức để viết kịch. Nhưng thực tế Lưu Quang Vũ vẫn tâm huyết cho thơ. Đó là thời kỳ hậu chiến 10 năm, kinh tế bao cấp, đời sống xã hội nhiều khó khăn, sự đói nghèo bao trùm lên cả nước.
Bởi trải nghiệm nhiều hơn, anh nhìn thấy rõ ràng hơn bao giờ hết sức mạnh, vai trò của nhân dân trong tất cả thử thách của lịch sử.
Anh đã trải qua những cảnh ngộ của riêng mình, tận mắt chứng kiến những khó khăn, những hào hùng, đổ vỡ của chiến tranh, khó khăn của thời kỳ bao cấp, thơ bắt đầu vượt ra ngoài bản thân, hướng tới tầm vóc cao cả hơn, rộng lớn hơn.
Thơ Lưu Quang Vũ không còn chỉ đắm chìm trong mơ mộng và cái đẹp, lý tưởng lãng mạn ở giai đoạn đầu, hay những cay đắng, bế tắc những năm đầu thập niên 1970, mà rất gần gũi, ấm áp.
Bắt đầu từ bài thơ Đất nước đàn bầu viết năm 1972, sau đó hàng loạt những bài thơ ngợi ca đắm đuối sự hào hùng, vĩ đại của đất nước, của nhân dân ra đời mà mỗi bài thơ dài đều như một sử thi tráng lệ, như: Người cùng tôi, Bài ca bán đảo, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Tiếng Việt…
Đất nước càng gian lao thì người nghệ sĩ càng ý thức hơn về trách nhiệm công dân, sự nhạy cảm của người nghệ sĩ đưa đến những dự báo rất sâu sắc.
Nếu như trong bài Người cùng tôi có cái nhìn rất biện chứng về nhân dân thì bài Tiếng Việt, người đọc xúc động được thấy tình yêu nhân dân của Lưu Quang Vũ bắt đầu từ những cụ thể như lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán, từ làn điệu hát chèo, dân ca…
Và đặc biệt là Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi với những câu thơ có niềm yêu đời chảy tràn bất tận:
"Ước chi được hóa thành ngọn gió/ Để được ôm trọn vẹn nước non này/ Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá/ Để mát rượi những mái nhà nắng lửa/ Để luôn luôn được trở lại với đời.../ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi...".
Tập thơ Lưu Quang Vũ đang tự tay làm bản thảo chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc năm 1988, đã định chọn tên Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Nhưng sau đó, anh ưu tiên lựa tên Mây trắng của đời tôi nương theo một câu thơ như là tuyên ngôn thơ của mình: "Thơ tôi là mây trắng của đời tôi".
Gia đình Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh năm 1987 - Ảnh: Gia đình cung cấp
Vá lại những dang dở
Tập thơ ấy, Lưu Quang Vũ đã dự định sẽ thực hiện lời hứa năm nào với người yêu "cô đơn, rồ dại" của mình - họa sĩ Nguyễn Thị Hiền: hai người cùng làm chung một tập thơ, chàng viết thơ, nàng minh họa. Hai tháng trước khi mất trong vụ tai nạn bất ngờ, Lưu Quang Vũ có chuyến đi vào Sài Gòn.
Và như cách anh vẫn lần theo người yêu bé nhỏ mà đã không đi được tới cùng, Lưu Quang Vũ lại đi tìm gặp Nguyễn Thị Hiền. Anh nhắc lại lời hứa làm chung tập thơ năm nào của hai kẻ mộng mơ yêu nhau và mời Hiền vẽ minh họa cho tập thơ của anh sắp ra mắt.
Tất nhiên là nàng thơ không năm tháng của anh đồng ý, nàng chưa bao giờ quên lời hứa năm xưa. Lưu Quang Vũ hẹn hai tháng sau sẽ quay lại gặp, thì đúng thời điểm hẹn trở lại, tai ương ập đến. Tập thơ dở dang cùng lời hứa dang dở.
Mây trắng của đời tôi cuối cùng cũng ra đời một năm sau cái chết của nhà thơ, nhưng lời hứa kia vẫn đứt quãng đau thương. Cho đến một ngày…
Lưu Quang Vũ ngày đầu trong quân ngũ - Ảnh: Gia đình cung cấp
Chừng chục năm trước, một sớm mai trong căn nhà chất đầy tranh và hồi ức ở Hà Nội, họa sĩ Nguyễn Thị Hiền bừng tỉnh sau giấc mộng mị thấy Lưu Quang Vũ trở về, áo cộc tay màu trắng và khuôn mặt trẻ như hồi hai người còn bên nhau.
Ngay sau đó, nhà sách gọi cho nữ họa sĩ với lời mời vẽ minh họa cho tuyển tập thơ sắp ra mắt của Lưu Quang Vũ.
Họa sĩ Nguyễn Thị Hiền hăm hở bước vào những ngày lại đắm chìm trong những vần thơ của người tình không bao giờ chia lìa, trong đó có rất nhiều bài thơ hay nhất chính là của Lưu Quang Vũ viết cho bà như: Em - tình yêu những năm đau xót và hi vọng, Gửi Hiền mùa đông, Người con giai đến phòng em chiều thu, Không đề 2, Lá thu, Quả dưa vàng, Thơ tình viết về một người đàn bà không có tên I, II, III…
Cuối cùng thì lời hứa của hai người yêu nhau cũng thực hiện được, nhưng là 32 năm sau khi chàng thi sĩ đã qua đời, bằng tập thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi.
Cũng tập thơ này, trù tính khác của Lưu Quang Vũ đã được em gái Lưu Khánh Thơ thực hiện.
Cái tên Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi mà Lưu Quang Vũ từng muốn đặt cho tập thơ quan trọng của mình nhưng sau đó thi sĩ đã đổi tên khác, 32 năm sau được bà Lưu Khánh Thơ cân nhắc lấy trở lại làm tên cho tuyển tập thơ của anh trai do bà tuyển chọn.
Lý do không chỉ bởi Lưu Quang Vũ từng muốn có tên này cho tập thơ của ông, mà bà Lưu Khánh Thơ cho rằng cảm hứng dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước thực ra luôn là một mạch ngầm xuyên suốt trong trái tim và trong thơ Lưu Quang Vũ.
Nên cái tên Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi cùng cảm xúc trong bài thơ được Lưu Quang Vũ sáng tác năm 1984 này có thể nói, mới bao quát được hết đời thơ của Lưu Quang Vũ.
(*) Viết theo lời kể của PGS.TS Lưu Khánh Thơ và họa sĩ Nguyễn Thị Hiền.
Thơ tình Lưu Quang Vũ tặng họa sĩ Nguyễn Thị Hiền
Nhà thơ Lưu Quang Vũ có ba người đàn bà gắn bó sâu nặng. Hai người được công chúng biết đến nhiều là diễn viên Tố Uyên - người vợ đầu, nhà thơ Xuân Quỳnh - người vợ sau và gắn bó với 15 năm cuối đời với ông.
Họp báo đêm thơ nhạc Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi - Ảnh: BTC
Người đàn bà thứ ba là họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, con gái nhà văn Kim Lân. Bà gắn bó sâu sắc với Lưu Quang Vũ giai đoạn ông chông chênh, "những năm đau xót và hy vọng" như tên một bài thơ viết tặng.
Đó là đầu những năm 1970 khi đất nước còn chiến tranh, Lưu Quang Vũ giải ngũ, thất nghiệp, ly hôn. Đây cũng là giai đoạn ông thăng hoa nhất với thơ.
Nhiều người trong giới văn chương nhận định những bài thơ tình hay nhất của ông là dành cho bà Hiền, một tài năng hội họa trẻ khi đó.
Lâu nay những bài thơ ông viết cho bà Hiền ít được đọc ở các chương trình thơ Lưu Quang Vũ và ít phổ biến trong công chúng.
Sắp tới đêm thơ nhạc Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi sẽ được tổ chức để kỷ niệm 75 năm sinh Lưu Quang Vũ, 35 năm ngày mất cặp vợ chồng tài danh Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh.
Ban tổ chức quyết định sẽ dành thời lượng cho cả những bài thơ dành tặng họa sĩ Nguyễn Thị Hiền.

Lưu Quang Vũ- Xuân Quỳnh
Chương trình do gia đình hai cố tác giả phối hợp cùng báo Nông Thôn Ngày Nay/điện tử Dân Việt tổ chức vào ngày 16-8, tại Nhà hát lớn Hà Nội, chỉ phát vé mời.
Tại họp báo ngày 8-8, ông Lưu Quang Định - tổng biên tập báo Nông Thôn Ngày Nay và là em trai Lưu Quang Vũ, trưởng ban tổ chức - cho biết chương trình năm nay dành chính cho Lưu Quang Vũ.
Chương trình sẽ có đọc thơ, hát ca khúc phổ thơ của Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh và trích đoạn kịch của Lưu Quang Vũ.
Phần đọc thơ, ngoài những bài thơ Lưu Quang Vũ viết cho ba người phụ nữ gắn bó với mình thì còn có những bài thơ nói lên tính công dân của ông, về tình yêu quê hương, đất nước, trăn trở về thân phận con người.
Phần này cũng là những bài thơ ít được đọc trong các sự kiện như Việt Nam ơi; Trung Hoa, Người cùng tôi.
Phần nhạc sẽ gồm sáu ca khúc, trong đó có bốn ca khúc vừa được ban tổ chức đặt hàng phổ nhạc thơ Lưu Quang Vũ.
Nguyễn Vĩnh Tiến phổ hai bài Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Mắt một mí, Lê Tâm phổ hai bài Nhà chật và Phố ta.
Hai nhạc sĩ thừa nhận thơ của Lưu Quang Vũ không dễ phổ nhạc vì lớp nghĩa sâu xa lặn sâu bên dưới những con chữ, nhưng họ hầu như giữ nguyên lời thơ của ông. Ca khúc chủ đề Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi sẽ do ca sĩ Mỹ Linh hát.
Phần kịch, Lucteam dựng một trích đoạn của vở được đánh giá là xuất sắc nhất của Lưu Quang Vũ: Hồn Trương Ba da hàng thịt.
Để khán giả có thể theo dõi vở kịch qua một trích đoạn, đạo diễn Trần Lực của Lucteam sắp xếp một người dẫn truyện. Trần Lực đảm nhiệm vai trò tổng đạo diễn của toàn bộ chương trình chứ không chỉ phần sân khấu.
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi quy tụ nhiều nghệ sĩ tên tuổi: Lê Khanh, Lê Chức, Đỗ Kỷ, Minh Trang, Tạ Tuấn Minh, Mỹ Linh, Vũ Thắng Lợi...
Chân dung tự họa của họa sĩ Nguyễn Thị Hiền, người trong câu thơ “Tóc em rối và áo em đỏ thắm” của Lưu Quang Vũ
Nguồn: Lưu Quang Vũ

































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn