Đỗ Xuân Thạnh_Skyskysky :

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945





Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945


Nạn đói năm 1945- Hơn 2 triệu người chết vì thiếu gạo Kỳ 1



Phim Tài Liệu- Nạn đói năm 1945 và sự thật lịch sử -Kỳ 2



Phim kinh điển :sao tháng 8


NGƯỜI SỐNG VỚI NHỮNG OAN HỒN

Tha thứ nhưng không quên bởi sự lãng quên của những người đang sống làm chết đi những người đã chết

Nạn đói năm Ất Dậu, chỉ mới cách chúng ta già nửa thế kỷ, là một trong những sự kiện kinh hoàng và đau thương nhất trong lịch sử dân tộc. Năm tháng qua đi, ngoài những bài báo cũ, những tấm ảnh đen trắng của cụ Võ An Ninh và ký ức của những con người nay đã đến tuổi “gần đất xa trời” thì còn có một chứng tích nữa (có thể là duy nhất) đã chìm vào quên lãng ngay trong lòng Hà Nội. Đó là những ngôi mộ lớn mà năm 1951, người dân Hà Nội đã tự bảo nhau qui tập hài cốt, chôn cất tử tế và dựng chung một tấm bia lớn. Rồi những ngôi mộ vô thừa nhận ấy bị lãng quên giữa một nghĩa địa bỏ hoang cho đến khi những “đợt sóng” đô thị hóa ập đến…

Hà Nội mưa tầm tã. Những con ngõ nhỏ, ngoắt ngoéo trong một khu lao động nghèo thuộc phường Vĩnh Tuy (quận Hai Bà Trưng) vắng hẳn bóng người. Tôi đi tìm chứng tích ấy với cái địa chỉ trong tay cộc lốc hai chữ: bể xương.Một bà đứng tuổi, ngỡ tôi có người thân chết trong nạn đói năm Ất Dậu, tận tình đưa đến một cái vườn nằm tận cùng một con hẻm sâu rẽ vào từ ngách 86, ngõ 559, đường Kim Ngưu. Tấm bia lớn với dòng chữ đắp nổi :”nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944-1945” vẫn nằm đó trong khu vườn lọt thỏm giữa những bức tường xi-măng xám xịt của những ngôi nhà ống cao hai, ba tầng.

Nơi tôi đứng, cái sân xi-măng liền kề tấm bia chính là địa danh “bể xương”, phần trên một hầm sâu 3m dùng để chôn xác người chết đói. Ngay trên mảnh vườn, chỉ cần bới qua một lớp đất mỏng là có thể thấy lớp lớp tiểu xếp lên nhau, cả ngàn số phận tang thương chen chúc nhau nằm dưới đó. Một người dàn bà gầy guộc, chừng bốn mươi, năm mươi tuổi, đang thắp hương bên cái miếu nhỏ trước bia. Đó là chị Trần Hồng Nhung, người mà khắp chòm xóm không ai là không biết. Có người bảo chị là “người sống lẫn với ma” bởi từ 15 năm nay chị là người duy nhất giữ gìn chứng tích, chăm nom, hương khói cho những oan hồn nơi đây. Tôi gạn hỏi chuyện đời, chị cười, nói trong xót xa: Mình sống ở đây nhiều éo le lắm nhưng cũng chỉ biết cười. Cười cho những oan hồn đói khát không tên, không tuổi. Cười cho số phận mình buồn rụng buồn rơi…

Người đàn bà giữ nấm mồ chung

Năm 1985, hai vợ chồng anh Thắng, chị Nhung dắt díu nhau xuống khu nghĩa trang Hợp Thiện cũ, lúc này vẫn là đồng không, mông quạnh dù đất nào đất ấy có chủ cả. Ít tiền, họ đành chọn mua mảnh đất xấu nhất nằm giữa những ruộng rau muống, những bãi cỏ um tùm và liền kề “bể xương”. Ban đầu chưa có tiền dựng nhà, họ quây tạm cái lều bằng ván gỗ, cót ép và sống trong cảnh không điện, không nước. Ngày ngày anh đạp xích lô kiếm sống còn chị đi chợ bán mớ rau, con cá góp nhặt thêm chút đỉnh và bắt đầu hương khói, chăm nom, “hầu chuyện” các cụ nằm trên mảnh đất kế bên. Hồi đó những đợt sóng đô thị hóa chưa thật sự bắt đầu và hai con người sống đơn độc trên mảnh đất ấy nghót nghét chục năm. Ngẫm lại quãng đời này, chị đúc kết thành một câu chắc nịch :

-Chị sống với người chết là nhiều chứ người sống có mấy!
-Thế chị không sợ sao?
-Mình nghèo quá, cũng chẳng còn biết đi đâu nữa.

Có người quen xuống thăm lấy làm ái ngại cho chị: các cháu còn nhỏ, chị vào ở trong này có trụ lại được không? Ngay cô em gái dưới quê lên, thương anh chị lắm nhưng cũng không dám ngủ lại một đêm. Cô bảo: anh chị ở chung với người chết thế này biết bao giờ mới mở mày mở mặt được. Nhưng rồi anh chị cũng bán được nửa mảnh đất phía ngoài lấy tiền cất một căn nhà nhỏ, chỗ dư dả để chị bắt đầu lo cho các cụ được mồ yên mả đẹp.

Chị ra chợ Mơ gom được hơn 300 cái tiểu, đánh một chuyến xe tải chở về đến đầu ngõ. Chị thuê thêm mấy người xe thồ, bốc vác cùng mình tìm kiếm những hài cốt nằm dưới mảnh đất xung quanh tấm bia để xếp vào tiểu. Khổ nỗi ngày trước đây là những ngôi mộ tập thể nên giờ không thể phân biệt từng bộ hài cốt được. Thôi thì đành để các cụ nằm lẫn lộn với nhau vậy.

Cả ngàn hài cốt nơi đây chủ yếu là vô danh. Họa hoằn lắm mới có vài tấm bia bết bùn đất hay dòng chữ mập mờ trên những viên gạch vuông đậy lên mỗi tiểu. Chị Nhung nhặt nhạnh dần, như người đãi cát tìm vàng, mong cho những hài cốt vô thừa nhận không còn lạnh lùng ba chữ “vô thừa nhận”. Bản danh sách của chị cứ thế mà dài dần, dài dần nhưng vẫn không một dòng địa chỉ: Hoàng Cung Văn 14 tuổi, mất 7/3 Ất Dậu… Đào Huy Vọng mất 7/3 Ất Dậu… Hoàng Thị Canh 9 tuổi… Vũ Trọng Đình 63 tuổi, mất 2/8 Ất Dậu…

Năm 1997, nhà cửa mọc lên như nấm, nói như một ông cán bộ phường thì đó là thời điểm “người với ma giành nhau đất sống”. Để giữ được tấm bia lớn cùng chốn yên nghỉ cho những vong hồn, chị đi xin gạch còn dính đầy vôi vữa người ta phá ra từ những ngôi nhà cũ để về xây tường bao quanh thành một mảnh vườn rộng chừng 120 m2. Xong bức tường, chị dựng thêm một cái miếu nhỏ trước bia để hương khói cho các cụ.

Đã có không ít người tan gia, bại sản tìm đến chị để xin vào vườn quây một khoảng đất 20-30 m2 làm nhà với cái giá hai mươi, ba mươi triệu đồng. Những khoản tiền lớn ấy không ít lần đã làm anh chị đắn đo, nhưng rồi “đừng tham bát mà bỏ mâm” – hai vợ chồng bảo nhau như vậy.

Giờ đây gia đình chị nghèo vẫn hoàn nghèo. Anh Thắng, trụ cột kinh tế của gia đình, nhọc nhằn đạp những cuốc xe kiếm mỗi ngày khá lắm cũng chỉ 15, 20 nghìn đồng. Chị đi chị chợ cũng bữa đực, bữa cái nên xoay sang làm thêm cái nghề chẳng ra nghề, người ta gọi nôm na là nghề “chỉ chỏ”: bữa nào rảnh chợ búa, chị đứng ra đầu ngõ giúp mấy người cần mua nhà, mua đất hay tìm một địa chỉ ở chốn “ngõ giăng mắc cửu” này để kiếm thêm mấy nghìn lẻ. Rủi thay, mới đây chị bị tai nạn phải bó bột, đến nay vẫn chưa làm việc nặng được nhưng sớm sớm, chiều chiều như thường lệ, chị vẫn lặng lẽ quét dọn chốn yên nghỉ của những oan hồn không mảy may liên can tới mình. Thắp một nén hương, chị thì thào :

Lạy các cụ! Các cụ sống khôn, chết thiêng. Con ăn ở nhân đức, chỉ mong được phù hộ cho cái sức khỏe để con nuôi các cháu và hương khói cho các cụ.
Anh chị đã có ba mụn con: thằng cu Tuấn (11 tuổi), con Mai (9 tuổi), con Linh (8 tuổi), đứa nào đứa ấy đều thương bố mẹ, gắng học hành cả. Một sớm tôi đến thăm, bắt gặp con Linh đội cái nón rách hí hửng xách cái cặp lồng phở mới mua về. Ba ngàn đồng phở được trộn với cơm nguội chia đều cho cả nhà làm bữa sáng. Chị Nhung ngậm ngùi tâm sự :
Mình có tuổi rồi, khổ mấy cũng chịu được chỉ thương chúng nó đang tuổi ăn, tuổi học. Rồi cả chuyện dính dáng đến hài cốt nữa chứ, cứ nghe người lớn nói chuyện nhắc đến đó là mặt đứa nào đứa ấy len lét cả – Nói đến đây hai mắt chị đỏ hoe – Thằng Tuấn có lần hỏi bố : sao bố mua nhà đâu chẳng mua, lại mua cái nơi toàn xương là xương thế này? Bố nó nghèo, thương con đau nhói trong lòng, gặng trả lời: xương đâu mà xương, người bên làng Mai Động giết trâu, giết bò quẳng ở đó chứ! Thằng bé cứ đinh ninh vậy cho đến một lần nó vấp phải một mảng xương đầu trong vườn. Từ dạo ấy bọn trẻ hãi luôn. Cứ 9 giờ tối là chúng bắt bố mẹ khoá chặt cửa lại. Con Mai nhiều đêm trằn trọc mãi không ngủ được vì ám ảnh bởi những người mặc áo tang trắng. Rồi mai đây liệu mấy đứa có dám khoe bạn bè rằng nhà chúng ở chỗ “Bể xương”, liệu có ai qua nhà chơi với chúng ngoài mấy đứa trẻ quẩn quanh trong ngõ ngách này…

Mảnh đất lắm người, nhiều ma

Khu vực này ngày trước là nghĩa trang Hợp Thiện – một trong ba nghĩa trang lớn của thành phố. Năm 1961, chính quyền thành phố di dời nghĩa trang lên Thanh Tước và Bất Bạt. Tuy nhiên còn rất nhiều những ngôi mộ vô chủ, mộ tập thể và cả ngàn tiểu, nồi đựng hài cốt còn sót lại dưới lòng đất. Mảnh đất bỏ hoang không được ai quản lí, đến khi dần dà trở thành những ruộng rau, những khoảnh đất người ta chia nhau làm nhà, mua đi bán lại thì chuyện đã rồi. Những cư dân đầu tiên ở đây chủ yếu là người nghèo, những người bị phá sản, mất nhà mất cửa.

Người ta nói nửa đùa nửa thật với nhau: không chừng dân ở đông quá nên ma bỏ đi hết rồi. Nhưng rồi những đợt đào giếng, đào móng xây nhà mới cho ra những con số hãi hùng: nhà ông Ph. đào giếng gom được 7 bao tải xương (nhiều khi người dân sợ quá, xúc bừa cả bùn đất cho vào bao), nhà ông Th. cùng ngõ với chị Nhung đào được 5 bao, nhà ông H. đối diện đào được 40 tiểu, nhà bà L. đào được 43 tiểu và 6 tấm bia, nhà ông Ch. đào được 27 tiểu và bia 11 cái. Đã đào thấy thì phải tìm cách giải quyết. Tổng kết các “giải pháp” phổ biến trong dân, ông Định, cán bộ phụ trách xây dựng của phường Vĩnh Tuy cho biết:

Giải pháp thứ nhất là ném xuống sông Kim Ngưu, sông Hồng (bởi thế nên khi thực hiện dự án kè sông Kim Ngưư, người ta đã vớt lên rất nhiều tiểu, nồi). Giải pháp thứ hai là để ở khe tường giữa các nhà. Giải pháp thứ ba là qui tập vào vườn cạnh nhà chị Nhung.

Tuy nhiên một số người vô lương tâm, phần cũng vì sợ quá mà không biết xoay sở ra sao, dấm dúi chờ đến nửa đêm đem quẳng cả trước cửa nhà chị Nhung. “Nhà nào ăn ở thất đức thôi thì họ phải gánh”, chị chỉ nghĩ có vậy rồi lại âm thầm chôn cất những nắm xương đã xỉn màu.

Chuyện ly kỳ xung quanh những hài cốt, dân trong xóm râm ran bàn như cơm bữa. Nào là chuyện nhà anh T. đào móng tìm thấy 27 tiểu trẻ con, đem vứt trộm xuống sông Hồng, đoạn dưới chân cầu Chương Dương. Sau cả nhà đau ốm liên miên, làm ăn thất bát, anh T. lại tính thuê thợ lặn xuống vớt lên nhưng đám thợ đòi 15 triệu nên giờ vẫn bó tay. Rồi chuyện có nhà câu trộm điện trong vườn bèn lấy một mảng xương đầu ngụy trang để dọa cán bộ xuống kiểm tra. Hay như chuyện nhà bà C. sát nách “bể xương” muốn xây nhà mới nhưng không dám đào móng mà phạt tường cũ cách sàn độ một thước, nêm đất, nêm cát vào thành…”móng nổi” rồi xây tiếp lên trên.

Nỗi ám ảnh về những hài cốt còn nằm sâu dưới lòng đất, về điều kiện sinh hoạt thiếu thốn (theo ông Nguyễn Văn Thi, chủ tịch phường Vĩnh Tuy thì đến nay 80% dân trong phường vẫn phải dùng nước giếng khoan, trong đó có cả những gia đình trong khu vực nghĩa trang cũ) đã khiến nhiều gia đình đến rồi lại đi. Chỉ còn gia đình chị Nhung và lũ chuột ẩn náu dưới “bể xương” là bám rễ lâu nhất ở cái mảnh đất đầy éo le, lằng nhằng giữa người sống với người chết này.

56 năm đã trôi qua, tôi chạnh lòng xót xa và cảm thấy mình như có lỗi với những đồng bào xấu số khi đứng trước vong linh họ. Một chứng tích lịch sử và cả ngàn số phận tang thương chỉ còn được nghĩ đến và hương khói bởi những đồng bào ít học, nghèo khó của họ. Đó là một gia đình người đạp xích lô đã 15 năm giữ nấm mồ chung. Đó là những người xe thồ, bốc vác dựng lán ngủ trên mái bằng nhà chị Nhung. Đến ngày rằm họ góp nhau mỗi người 200 đồng mua một thẻ hương để an ủi những oan hồn nơi đây. Mấy chục năm qua không một cơ quan chức năng nào ngó ngàng tới.

Chị Nhung cho biết năm 1990 cụ Võ An Ninh, tác giả những bức ảnh xúc động về nạn đói năm 1945, và bốn nhà sử học Nhật Bản đã lặn lội tới đây lấy tài liệu tố cáo tội ác phát xít Nhật. Bẵng đi đã hơn 10 năm, đến ngày hôm nay mới lại có những con người trở lại để chị gửi gắm niềm hy vọng. Đó là niềm hy vọng giản dị mà chị không biết nói ra đầu môi mà chỉ biết thể hiện bằng những gắng gỏi suốt 15 năm qua: tạo cho các cụ một nơi xứng đáng hơn để an giấc ngàn thu, để thằng Tuấn, con Mai, con Linh và những đứa trẻ khác ở “xóm bể xương” không còn ám ảnh, tự ti về nơi chúng sinh ra và khi khôn lớn, có ăn, có mặc, bọn trẻ cũng như thế hệ chúng ta hôm nay không quên những tháng năm đau khổ trong quá khứ.

Hà Nội, tháng 8, 2001
Nhà sử học Dương Trung Quốc, tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay:

Ngày nay chúng ta khó có thể hình dung nổi con số “2 triệu” người chết đói khủng khiếp đến mức nào, nhất là vào thời kỳ đó dân số nước ta chỉ hơn 20 triệu. Khủng khiếp đến mức có người nghi ngờ về độ chuẩn xác thì các nhà sử học Việt Nam và Nhật Bản đã cùng nhau nghiên cứu để tìm ra câu trả lời. Họ đã lật từng trang tư liệu cũ, trở lại điều tra các làng xóm, các dòng họ, các gia đình đã từng lâm nạn đói để khẳng định con số đó là có thật!
Ký ức và những tấm ảnh tư liệu đã ghi nhận bao hình ảnh đau thương với những xác chết ngổn ngang, những chuyến xe bò chở cả những người đang thoi thóp, những hố chôn chung và chôn vội,…và cả những bằng chứng về tình nghĩa đồng bào đã chia cơm sẻ áo. Có một sự kiện đáng ghi nhớ là chỉ vài năm sau nạn đói, ngay trong cùng địch tạm chiếm, nhân dân Hà Nội đã qui tập hài cốt, chôn cất tử tế và dựng nên một tấm bia tưởng niệm. Không lẽ chúng ta chấp nhận cơn sốt đất đai, công cuộc đô thị hóa Hà Nội và sự thờ ơ của chính chúng ta hủy hoại chứng tích cuối cùng của một sự kiện trọng đại trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20.

Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, chúng ta hãy dành một nơi xứng đáng hơn tưởng nhớ đồng bào chết đói năm Ất Dậu để không ai bị lãng quên, để hàng triệu thân nhân họ cũng như lớp lớp thế hệ người Việt Nam có một nơi để hương khói cho những con người mà oan hồn của họ đã trút thêm ngon lửa căm hờn, tiếp sức cho dân tộc Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền sống của chính mình. Đó cũng là cách chúng ta đối xử công bằng với một quá khứ đau thương và những thế hệ sau không trách chúng ta là vô ơn, bạc nghĩa.

Ghi chú:

1. Sau bài Người sống với những oan hồn, Nguyễn Đỗ Dũng còn thực hiện phỏng vấn giáo sư sử học Văn Tạo trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 33 (2001) trang 3 với tựa: Hãy dựng tượng đài tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói năm Ất Dậu.

2. Tháng 11 năm 2001, Nguyễn Đỗ Dũng cùng Nguyễn Thanh Huyền và Đỗ Ngọc Sơn tại Khoa Quy hoạch, Đại học Kiến Trúc Hà Nội, bắt đầu thực hiện đề tài nghiên cứu : Cải tạo không gian tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói 1944-1945. Đề tài sau đó được giải nhất Sinh viên nghiên cứu khoa học của trường Đại học Kiến Trúc Hà Nội và giải khuyến khích của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

3. Sau khi bài viết được đăng, cùng với những nỗ lực của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, tạp chí Xưa & Nay và các cơ quan truyền thông khác, khu vườn chị Nhung trông coi đã được thiết kế xây dựng mới thành Khu tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói 1944-1945 trong phạm vi đất không thay đổi và với quy mô nhỏ. Công trình đã được khánh thành vào cuối tháng 12 năm 2001 và một lễ dâng hương được tổ chức với sự tham gia chủ lễ của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội Hoàng Văn Nghiên và một số trí thức tên tuổi. 4. Ngày Rằm tháng 7 âm lịch (lễ cúng chúng sinh) được chọn là ngày tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói năm Ất Dậu.

5. Sách về nạn đói: Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử. Văn Tạo và Furuta Motoo. Tiểu ban Hợp tác Việt – Nhật nghiên cứu nạn đói năm 1945 ở Việt Nam xuất bản. Tóm lược lịch sử về Nạn đói năm 1945 do Nguyễn Đỗ Dũng thực hiện cho phần viết của đề tài nghiên cứu Cải tạo không gian tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói 1944-1945 sẽ được đăng tải cùng một số ảnh tư liệu trong thời gian tới cùng với bài viết này.



Người 15 năm trông ngôi mộ tập thể lớn nhất Việt Nam chết vì nạn đói năm 1945: 'Đây là việc tâm linh nên tôi muốn làm sao cho trọn vẹn'

Ít ai biết rằng, ngay giữa trung tâm thủ đô Hà Nội lại có một ngôi mộ tập thể, được cho là lớn nhất Việt Nam chôn vô số người chết vì nạn đói kinh hoàng năm 1945. Những hồi ức về nạn đói kinh hoàng năm 1944-1945

Cứ đều đặn mỗi sáng, ông Đặng Văn Tuyến (69 tuổi) dậy sớm tập thể dục vài vòng rồi bắt đầu mở cửa nghĩa trang Hợp Thiện nằm trong ngách sâu hun hút của ngõ 559, đường Kim Ngưu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội quét dọn toàn bộ khuôn viên.

Nghĩa Trang Hợp Thiện rộng 158m2, nơi đây chẳng có gì ngoài tấm bia đá khắc bài tế của giáo sư Vũ Khiêu với những lời ai oán: “Có cơn gió bụi vừa tan/ Hai triệu sinh linh đã mất/ Khí oan tối cả mây trời/ Thây lạnh phơi đầy cỏ đất…”. Bức tường đơn sơ đắp dòng chữ “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944-1945”; bệ đặt bát hương, ngôi nhà thờ và bể chứa xương người lớn nhất Việt Nam.


Nghĩa trang Hợp Thiện nơi tưởng niệm các nạn nhân chết đói năm 1944-1945.


Ông Tuyến đã 15 năm trông coi khu tưởng niệm.

Sau khi thắp hương, ông Tuyến bắt đầu kể những câu chuyện về ngôi mộ tập thể với vô số người chết vì đói này. Trong ký ức người Việt Nam, nạn đói năm Ất Dậu vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945. Nạn đói đã “càn quét” qua 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông, có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa…

Cái đói năm ấy không buông tha một ai, những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất đã phải bỏ mạng.





Cảnh người sống ngắc ngoải trong nạn đói 1945. Ảnh tư liệu.

Để chống lại nạn đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, nhiều vật nuôi cũng bị giết để lấy thịt… Khi không còn gì ăn thì nhiều người ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần.

Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót. Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm khiến nhiều người khiếp sợ.


Hình ảnh xương người chất lên xe bò.


Người dân đào hố sâu chôn mộ tập thể.





Bể chứa xương người chết đói ở nghĩa trang Hợp Thiện.

Hàng vạn người lũ lượt chạy đói đến các thành phố lớn. Có người bán cơ nghiệp, có người ôm con nhỏ tha hương đầu đường xó chợ… Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đến đổ chất đống tại nghĩa trang Hợp Thiện.

Theo ông Tuyến, ngôi mộ không thể biết chính xác có bao nhiêu người chết nhưng có rất rất nhiều người đã bỏ mạng. Hàng chục nghìn sinh linh chết không gỗ ván, không bia mộ tìm được nơi mai táng trong một nấm mồ chung. Bể mộ sâu 4m và rộng gần 40m2. Phần trên bể mộ có bức tường xây dựng lần đầu năm 1951.

Trên tường, nơi khách thắp hương treo những hình ảnh quy tập xương cốt đồng bào do cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh ghi lại. Đây là thân hình xác xơ vì đói, nhìn không ra đàn ông hay đàn bà; kia là chồng chất xương sọ được xếp lại trong hầm đem chôn mà người yếu bóng vía sẽ không dám ngắm.

15 năm ngày đêm tình nguyện dọn dẹp khu mộ tập thể chung

Theo ông Tuyến, Khu tưởng niệm hơn 2 triệu đồng bào này suýt bị rơi vào quên lãng, nếu như năm 2001 không có 3 sinh viên của Trường đại học Kiến trúc Hà Nội làm đề tài “Cải tạo không gian tưởng niệm đồng bào chết vì nạn đói 1944-1945”. Sau đó, vào tháng 9/2003, UBND TP Hà Nội quyết định đầu tư cải tạo, xây dựng lại khu vực này. Trong đó, bể xương chứa hàng vạn hài cốt của đồng bào nằm ở chính giữa.


Tấm bia tưởng niệm những đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói năm 1944-1945


Quanh mộ ông Tuyến trồng nhiều chậu cây xanh.

Ông Tuyến vốn sống từ nhỏ ở đây nên hiểu tường tận về khu mộ tập thể này. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, khu vực này còn rất hoang vắng. Những năm đầu thập niên 90, bể xương còn nằm lộ thiên. Sau này, mọi người xây dựng thành bể kiên cố, để lại một lỗ thông âm - dương. Tuy nhiên, trải qua mưa gió gây ô nhiễm mọi người đã bịt kín.

Năm 2001, thấy nhóm sinh viên đến làm đề tài, ông Tuyến ra xem. Nhưng không hiểu sao, sau lần đó, trong ông bỗng thấy lòng thương cảm, muốn mình “gắn bó” với những hài cốt này vô cùng.


Tấm bia đá khắc bài tế của giáo sư Vũ Khiêu đặt trong khuôn viên.

“Năm 2005 sau khi nghỉ hưu tôi tự nguyện đến đây trông nom, chăm sóc, thắp những nén nhang cho những linh hồn xấu số được siêu thoát. Công việc này đòi hỏi phải có tâm chứ không có tâm không làm được. Đây là việc làm tâm linh nên làm sao cho trọn vẹn. Ngày rằm, mồng 1 âm lịch, lễ, Tết… hàng tháng tôi đều mở cửa cả ngày để mọi người vào thắp hương tưởng nhớ những người đã thiệt mạng vì nạn đói năm ấy”, ông Tuyến chia sẻ.





Hình ảnh khu tưởng niệm được xây dựng năm 1951.


Hình ảnh chia gạo cứu đói cho đồng bào năm 1945.

Hằng ngày ông Tuyến đều đặn dành thời gian hai buổi sáng chiều quét dọn, lau chùi sạch sẽ toàn bộ khuôn viên. Ông cũng trồng nhiều cây xanh. Suốt 15 năm làm công việc trông coi Khu tưởng niệm đặc biệt này, ông Tuyến đã đón vô số đoàn khách từ khắp nơi đến. Thậm chí rất nhiều vị khách đến từ nước Nhật Bản xa xôi đã để lại cho ông nhiều ấn tượng sâu sắc nhất.

Họ là những người từng tham chiến ở Việt Nam, nhà sử học, nhà nghiên cứu, sinh viên, khách du lịch… Có khách đến đây vì từng nghe về tội ác do chính cha ông họ gây ra. Cũng có người đến vì tò mò. Nhưng dù là ai, đến đây vì lý do gì, thì tất thảy đều cúi đầu trước vong linh người đã khuất!


Những hình ảnh nạn đói năm đó được đặt trong khu tưởng niệm.

Trong cuốn lưu bút của du khách thập phương đến thăm khu tưởng niệm còn được cất giữ cẩn thận, hiện vẫn còn dấu bút của nhiều công dân Nhật Bản. Hầu hết đều cảm thấy nuối tiếc cho một thảm họa nhân đạo xảy ra trong quá khứ.

Có khách đến đây vì từng được nghe về tội ác do chính cha ông họ gây ra, có người đến vì tò mò, thậm chí có từng trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Nhưng, dù họ là ai, đến với tâm thế và cương vị như thế nào đi nữa thì tất thảy họ đều cúi đầu tỏ vẻ ăn năn trước vong linh người đã khuất.





Trong cuốn lưu bút của du khách thập phương đến thăm khu tưởng niệm còn được cất giữ cẩn thận, hiện vẫn còn dấu bút của nhiều công dân Nhật Bản.


Có người viết sách gửi về tặng ông Tuyến.

Ông Tuyến tâm sự, cứ vào những ngày Rằm tháng 7, lãnh đạo chính quyền, cùng các tăng ni phật tử từ khắp nơi đến đây để cầu siêu cho các vong linh của nạn đói năm 1944-1945. Khi đến đây, ngoài việc chứng kiến nỗi đau thương mất mát của đồng bào, người dân và cả du khách thập phương như được nhắc nhở về một sự hy sinh của hàng triệu đồng bào cho nền độc lập của nước nhà.

Đến nay đã hơn 75 năm trôi qua thế nhưng những hình ảnh về cảnh về nạn đói kinh hoàng năm xưa với những ngôi mộ tập thể chứa vô số người chết vẫn hiện hữu trong tâm trí nhiều người. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm. Nhiều người thế hệ sau thì nhắc nhau mãi ghi nhớ để tưởng niệm những người đã ra đi năm vì nạn đói năm đó… Còn ông Tuyến sẽ tình nguyện dọn dẹp nơi đây cho đến khi nào không còn sức nữa.


Nạn đói năm Ất Dậu, 1944-1945

Nạn đói năm Ất Dậu là một thảm họa nhân đạo xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói. Nguyên nhân • Nguyên nhân trực tiếp là những hậu quả của chiến tranh tại Đông Dương. Các cường quốc đang chiếm đóng Việt Nam như Pháp, Nhật Bản vì mục đích phục vụ chiến tranh đã lạm dụng và khai thác quá sức vào nông nghiệp vốn đã lạc hậu, đói kém gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Trong khi Nhật thu gom gạo để chở về nước thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam.[1] Những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất lương thực miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên càng bị đói.

• Nguyên nhân gián tiếp là những biện pháp quân sự hóa kinh tế nhằm phục vụ nhu cầu chiến tranh của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, do tại nước Pháp khi đó đang có chiến tranh và cũng đang bị xâm chiếm. Sau đó Nhật Bản dùng vũ lực loại bỏ Pháp chiếm đóng Việt Nam rồi thực hiện các biện pháp khác khốc liệt hơn nhằm mục đích khai thác phục vụ chiến tranh (bắt nông dân nhổ lúa trồng đay, buộc người dân bán lúa gạo với giá rẻ mạt để chuyển về Nhật).

Nguyên nhân tự nhiên, thời tiết là yếu tố ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực tại miền Bắc. Thiên tai, lũ lụt, sâu bệnh gây mất mùa tại miền Bắc. Bệnh dịch tả lây lan nhanh và rộng khắp trong mùa lũ cũng góp phần làm tăng thêm nạn đói.

• Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc, cũng cấm luôn việc mở kho gạo cứu đói. Đồng Minh phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở ra, phong tỏa đường biển khiến hàng hóa không lưu thông được.

Chính sách của Pháp

Sau vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1930, Pháp quay lại với chính sách bảo hộ mậu dịch và độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối thực dân. Toàn thể dân Đông Dương phải ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng chỉ có người Pháp, một thiểu số rất ít người Việt và người Hoa gần gũi với Pháp hay một số dân chúng thành thị được hưởng lợi. Hậu quả là trước Đại chiến thế giới lần thứ hai, Việt Nam vẫn chỉ là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều quốc gia châu Á khác. Hệ thống thuế nửa thực dân nửa phong kiến khiến cho các hộ nông dân phải bán gần hết lương thực có được để nộp thuế khiến đa số nông dân không còn lương thực dự trữ.

Khi Đại chiến thế giới bùng nổ, Pháp bị yếu thế. Tại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật Bản gây áp lực với Pháp để tiến vào Đông Dương. Việt Nam bị cuốn vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật Bản bắt dân Việt Nam trồng đay thay trồng lúa gạo để phục vụ chiến tranh, nhưng thực ra Pháp đã tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay, gai hay cây kỹ nghệ. Sản lượng lúa gạo và hoa màu quy ra thóc tại miền Bắc giảm xuống rất mạnh do diện tích canh tác bị thu hẹp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.

Theo ông Hoàng Trọng Miên, trong sách Đệ Nhất Phu Nhân Tập I viết:

Giữa thời kỳ ấy, để phòng ngừa dân miền Bắc nổi dậy, Pháp tung đám tay sai đi khắp nơi vơ vét hết thóc gạo tải về tập trung ở các kho dự trữ riêng, lấy cớ là để tiếp tế cho quân đội Nhật. Hết ép buộc mua rẻ của dân quê, Pháp lại vãi tiền ra mua thóc, ngô (bắp) bằng một giá cao để thu cho kỳ sạch ngũ cốc hiếm hoi của miền Bắc. Gạo Nam Kỳ thì không được đưa ra, lấy cớ là phi cơ Đồng Minh ngày đêm không ngừng bắn phá tàu bè, ghe thuyền, còn đường xe lửa xuyên Đông Dương thì Pháp dành cho Nhật chuyên chở quân sự. Lúa thừa ở miền Nam chất chứa đầy kho, Pháp đem đốt thay than củi ở các nhà máy điện.

Dân quê ở Bắc khởi sự chết đói từ cuối năm 1944. Mùa lúa tháng Mười lại thất bát. Người có tiền ở thôn quê cũng đành nhịn ăn, vì thóc gạo đã bị lấy sạch. Tại thành phố, mỗi khẩu phần người Việt đều phải ăn gạo “bông” (phiếu mua gạo) ở trong tay chính quyền Pháp phân phát.

Theo sách Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4:

Bọn Pháp Decoux – Morlant, từ mùa gặt cuối năm 1943 đến hai mùa gặt năm 1944, cũng trưng thâu gạo bỏ vào các kho quân đội Pháp để phòng hờ một cuộc đổ bộ Đồng Minh vào Đông Dương.

Tác động của Hoa Kỳ

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai Việt Nam bị Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng nên bị quân Đồng Minh - chủ yếu là Hoa Kỳ - thường xuyên oanh tạc các tuyến đường vận tải để tấn công quân Nhật Bản. Kết quả là hệ thống giao thông ở Đông Dương bị hư hại nặng. Tính vào thời điểm năm 1945 thì đường sắt Xuyên Đông Dương không còn sử dụng được nữa và đường thiên lý Bắc Nam cũng bị phá hoại. Đường biển thì quân Đồng minh đã gài thủy lôi ở cửa biển Hải Phòng khiến hải cảng chính ở Bắc Kỳ cũng không thông thương được. Chính sách thu gom gạo của Nhật Bản

Trong thế chiến thứ 2, lãnh thổ Việt Nam nằm dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật. Gạo và cao su được quân Nhật thu gom, chở về nước hoặc cung cấp cho quân Nhật đóng ở tiền đồn vùng biển phía Nam. Theo tài liệu của chính quyền Pháp ở Đông Dương thì về gạo đã xuất ra nước ngoài, năm 1941: 700.000 tấn, năm 1942: 1.050.000 tấn, năm 1943: 950.000 tấn, năm 1944: 900.000 tấn; về cao su và các khoản thương vụ khác trong mấy năm đầu thập niên 1940 đã xuất số lượng tính ra bằng vàng tổng giá trị là 32.620 kg (tính tròn), tương đương số tiền lúc đó là 22 tỷ Franc.

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và triều đình nhà Nguyễn vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh, làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, dùng đốt lò thay cho than đá. Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt. Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng bạc Đông Dương, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng.

Vì chiến cuộc lượng gạo chở bằng thuyền từ trong Nam ra Bắc bắt đầu giảm từ 126.670 tấn (1942) xuống còn 29.700 tấn (1943), và đến năm 1944 chỉ còn 6.830 tấn. Tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng. Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích thì tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang. Năm 1945 Chính phủ Trần Trọng Kim phải huy động những phương tiện thô sơ chuyển vận gạo từ Nam ra Bắc bằng xe bò hay thuyền nhỏ. Cùng lúc đó thì lượng gạo tồn kho ở Sài Gòn lên cao vì không xuất cảng sang Nhật được khiến chủ kho phải bán rẻ dưới giá mua. Hơn 55.000 tấn gạo phải bán tháo cho các xưởng nấu rượu vì nguy cơ gạo ứ đọng sẽ mốc trong khi nạn đói hoành hành ở ngoài Bắc.

Đối với Pháp và Nhật Bản thì cả hai đều chú tâm vào những mục tiêu khác cho nhu cầu chiến tranh của họ. Chính Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux từ trước năm 1945 đã ra lệnh trưng thu thóc gạo để chở sang Nhật theo thỏa thuận với Đế quốc Nhật Bản. Giá gạo thị trường lúc bấy giờ là 200 đồng bạc Đông Dương một tấn nhưng nông dân chỉ được trả 25 đồng. Bản thân lực lượng quân quản Nhật cũng thi hành chính sách "Nhổ lúa trồng đay", do cây đay là nguyên liệu quan trọng cho sản xuất quân trang, quân phục.

Tình hình càng khó khăn thêm khi Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3 năm 1945 nên bộ máy chính quyền của Pháp nhanh chóng tan rã. Việc tiếp vận và phân phối sau đó càng bị tê liệt. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, đã manh nha từ đầu năm 1944 nay càng thêm trầm trọng. Đế quốc Việt Nam do Trần Trọng Kim làm thủ tướng ra chấp chính từ tháng 4 năm 1945 đã cố gắng huy động việc cứu đói cho dân ngoài Bắc nhưng những yếu tố chính trị, phương tiện và nhân sự phần nhiều vẫn nằm trong tay người Nhật nên Đế quốc Việt Nam không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói.

Đa phần các kho thóc có khả năng cứu đói trực tiếp tại miền Bắc khi đó đều nằm trong tay quân đội Nhật. Người Nhật vì mục đích chiến tranh đã thờ ơ trước sự chết đói hàng loạt của dân bản địa. Các kho lương thực được tăng cường bảo vệ, hoạt động trưng thu và vận chuyển lương thực được bảo vệ tối đa. Các kho thóc trở thành tâm điểm nơi người đói kéo về nhưng không được cứu đói đã nằm chết la liệt quanh đó.

Về việc cứu đói, đến tận tháng 6, chính phủ Trần Trọng Kim vẫn không làm được điều mình hứa hẹn. Báo Ngày Nay xuất bản tháng 6/1945 nhận xét về sự bất lực hoàn toàn của chính phủ này, viết:

“Chúng tôi nhận thấy ai ai cũng thất vọng và chán nản, vì sau hai tháng hô hào và tốn bao giấy mực, dân đói miền Bắc cũng chưa thấy một bao gạo nào ở Nam đưa ra. Lời tuyên bố của thủ tướng còn vang vọng bên tai ta: “Cần nhất là phải tiếp tế cho dân đói miền Bắc” mà tới nay việc làm vẫn chưa đi theo lời nói; tuy rằng gạo miền Nam vẫn chất đầy trong các kho, các nhà máy, tuy rằng giấy bạc vẫn nằm từng xấp dày trong các két sắt của nhà tư sản Việt Nam, tuy rằng nội các vẫn có một bộ tiếp tế và một bộ tài chính"

Về vấn đề này, nhà sử học Trần Văn Giàu chỉ ra nguyên nhân của sự bất lực này là do tính chất bù nhìn của chính phủ Trần Trọng Kim:

Lẽ dĩ nhiên, nguyên nhân trận chết đói năm 1945 chủ yếu không phải là do chính phủ Trần Trọng Kim mà là do chế độ thực dân, là chính sách tàn bạo của Pháp – Nhật. Sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim phần lớn là do tính chất bù nhìn của nó. Nó không thể bớt chỗ nào thừa cho chỗ không có. Nó không thể chống nạn đầu cơ ở miền Bắc lúc ấy vẫn còn gạo trong các kho của quân phiệt Nhật. Nhật tích trữ lương thực để nuôi quân. Từ 9-3 đến giữa tháng 6, việc thu thóc tạ vẫn được thi hành trong lúc hàng chục vạn đồng bào ta chết rũ dọc đường xó chợ. Chính phủ Trần Trọng Kim đâu dám đụng đến việc thu thóc tạ, càng không dám đụng đến kho thóc. Chính phủ đã cam đoan với Nhật là tiếp tế cho Nhật bằng hay hơn Pháp, để xứng đáng với cái độc lập mà Nhật ban cho! Cả chính phủ Trần Trọng Kim và Nhật đều bắt buộc mọi sự vận chuyển thóc gạo từ Nam ra Bắc đều phải qua “Ủy ban thóc gạo” ở Sài Gòn mà ủy ban này do công ty Nhật nắm. Khi tải ra đến Bắc thì phải gom gạo cho công ty thóc gạo Bắc kỳ 75% số lượng, công ty này lo bảo đảm trước hết lương thực cho quân Nhật, còn lại mới bán cho dân

Không những vậy, Đạo dụ của chính phủ Trần Trọng Kim ngày 13/6/1945 còn quy định: ai phạm việc phá hoại cầu cống, đường sá, cướp phá hoặc làm hư hại kho ngũ cốc, đồ ăn, gạo, đều bị kết án tử hình. Đạo dụ cũng cấm chỉ mọi cuộc tụ tập trên 10 người. Vì đạo dụ này, nhân dân không dám tập hợp nhau kéo đi phá kho thóc để chia cho người đói, hàng chục vạn người đã chết đói ngay bên ngoài cửa những kho thóc còn đầy ắp

Thiên tai

Ngoài bối cảnh chiến tranh, chính trị và kinh tế, tình hình thời tiết ngoài Bắc cũng đã góp phần trong những động lực tạo ra nạn đói. Mùa màng miền Bắc bị hạn hán và côn trùng phá hoại, khiến sản lượng vụ đông-xuân từ năm 1944 giảm sụt khoảng 20% so với thu hoạch năm trước. Sau đó là lũ lụt xảy ra làm hư hại vụ mùa nên nạn đói bắt đầu lan dần. Mùa đông năm 1944-45 khắc nghiệt thay cũng lại là một mùa đông giá rét khiến các hoa màu phụ cũng mất, tạo ra những yếu tố tai ác chồng chất giữa bối cảnh chiến tranh thế giới. Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) cùng tình trạng mất mùa ở các tỉnh Bắc Bộ cuối năm 1944 làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn. Theo những người dân trải qua nạn đói ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị rầy phá hoại.

Hệ lụy

Không có số liệu chính xác về số người đã chết đói trong nạn đói này, một số nguồn khác nhau ước tính là từ khoảng 400.000 đến 2 triệu người đã bị chết đói tại miền bắc Việt Nam. Tháng 5 năm 1945, bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền bắc, toà khâm sai của triều đình Huế tại Hà Nội ra lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói tổng cộng là hơn 380.000, chết vì bệnh – không rõ nguyên nhân – là hơn 20.000, tổng cộng 400.000 cho riêng 20 tỉnh ở miền bắc. Tháng 10 năm 1945, theo báo cáo của một quan chức quân sự của Pháp tại Đông Dương khi đó là tướng Mordant thì khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời kỳ cầm quyền tại Đông Dương "À la barre de l’Indochine" – là có 1 triệu người miền Bắc chết đói. Năm 1959, Chính phủ Nhật Bản đã đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm về việc bồi thường chiến tranh, phía Nhật cho rằng có khoảng 300.000 nạn nhân chết đói, trong khi chính quyền Ngô Đình Diệm đưa ra con số 1.000.000 người. Mức bồi thường cuối cùng được thống nhất là 14 tỉ 40 triệu yen (khoảng 39 triệu đôla Mỹ) vào năm 1960, chia ra thì mỗi mạng người Việt chết đói chỉ bằng một nhúm tiền lẻ.

Về sau, qua khảo sát hộ khẩu các tỉnh miền bắc, các nhà sử học Việt Nam ước đoán là từ 1 đến 2 triệu người đã chết đói. Con số 2 triệu người chết cũng là điều Hồ Chí Minh có nhắc đến trong bài Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Thôn Thạch Lỗi (nay là thôn Quang Minh), xã Thạch Lỗi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thuộc thành phố Hà Nội) gần như cả thôn đều chết đói (trừ trẻ em). Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (huyện Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (xã Yên Nghĩa, Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân". Trong cuốn "Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử" của GS Văn Tạo thống kê:

"Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".

Không chỉ làm số lượng lớn người chết đói, nạn đói còn khiến hàng trăm ngàn người phải rời bỏ quê hương, ly tán khắp nơi, nhiều người không còn quay về quê quán. Nhiều gia đình, dòng họ bị tan vỡ sau nạn đói này, không thể tìm lại được người thân thích. Tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân viết về thời kỳ xảy ra nạn đói năm 1945 đã mô tả rõ nét tình cảnh này.

Sau ngày Quốc khánh 2 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên sáu vấn đề cấp bách nhất mà Chính phủ cần giải quyết ngay và vấn đề số 1 là cứu đói: "Nhân dân ta đang đói... Những người thoát chết đói, nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm cách nào để có thể cho họ sống...".

Nạn đói xảy ra có khá nhiều người bỏ quê hương ra đi, khi chết đói trở thành những xác vô danh. Do điều kiện chôn cất xác người đói sơ sài vội vàng thiếu quy hoạch và đánh dấu nên đến nay tại miền Bắc một số nơi khi khởi công các công trình vô ý khai quật những ngôi mộ tập thể được cho là mộ của những người chết đói năm 1945.

Những người chép sử khi viết về thời thịnh trị họ chỉ nói mấy câu ngắn ngủi thôi "Thuở đó cửa không cần then, cổng không cần khóa", thế là đủ. Vậy cái hiện tượng nuôi lợn hai chuồng trồng rau hai luống, sẵn sàng mang cái độc hại cho đồng bào của mình, cho người tiêu dùng của mình, nó trở thành phổ biến, điều đó cực kỳ nguy hại. Ba mươi năm trước chúng tôi cùng các bạn đồng nghiệp Nhật Bản nghiên cứu về nạn đói năm 1945, kết luận cuối cùng là: Một nạn đói rất khủng khiếp. Nhưng chính các bạn Nhật Bản nói rằng, đây là một nạn đói lớn như thế mà không thể xảy ra những hiện tượng mà những nơi khác có: Người ta không ăn thịt lẫn nhau, người nghèo không tranh đoạt lẫn nhau. Mà rất nhiều giá trị đạo lý truyền thống của dân tộc được phát huy: Tình làng nghĩa xóm, dòng họ xã hội cưu mang nhau. Rõ ràng chúng ta phải thấy cái suy thoái đạo đức là nguy hiểm như thế nào, kinh tế có thể vực dậy được, đôi khi chỉ nửa nhiệm kỳ, nhưng suy thoái đạo đức thì không dễ để vực dậy. Tôi rất mong chúng ta quan tâm hơn đến lĩnh vực này để phát triển được bền vững hơn.

— Dân biểu Dương Trung Quốc đề đạt trước nghị trường năm 2017
Thời gian này ảnh hưởng của Việt Minh còn yếu, lòng dân chưa hoàn toàn hướng về, nên dù muốn tích trữ lương thực cũng không thể thực hiện việc trưng thu lương thực trên diện rộng (chỉ trưng thu được trong vùng Việt Minh kiểm soát nên có ảnh hưởng không lớn đến nạn đói). Điều cần thiết nhất của Việt Minh lúc này là sự ủng hộ của người dân. Do bị Pháp và Nhật truy lùng, cũng không có nguồn lực tài chính nên Việt Minh không thể tạo lập được kho lương thực nào có quy mô lớn đủ để cải thiện tình hình của nạn đói.

Việt Minh cùng với dân chúng chống đối việc trưng mua lúa gạo, cùng dân đánh phá các kho lúa của Nhật[11]. Trong nguy cơ đói cận kề cái chết, người dân không còn e sợ sự đàn áp của chính quyền nên hưởng ứng rất đông đảo. Chính tinh thần yêu nước chống thực dân đế quốc (chủ yếu) và hoạt động cứu đói của Việt Minh đã chiếm được cảm tình của một bộ phận nhân dân vùng Việt Minh (thứ yếu), đã dẫn đến sự kiện Cách mạng tháng Tám diễn ra thuận lợi.

Để cứu đói, nhiều tổ chức chính trị đương thời đã huy động lực lượng chặn bắt những chuyến xe hay những chuyến ghe chở gạo được Nhật vận chuyển từ miền Nam ra Bắc, đem tiếp tế cho dân, đồng thời để có nguồn dự trữ trường kỳ.[12] Sau ngày 2 - 9 - 1945, họ đã tịch thu toàn bộ tiền bạc của giới thân Pháp - Nhật trên toàn quốc (số tiền của Pháp khi ấy ta thu được 1.200.000 euro và của Nhật là 7.941.000 yên)[13] đồng thời phát động tăng gia sản xuất, tiết kiệm lương thực để cứu trợ cho người đói.

Xem thêm
Kho ảnh tư liệu của nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh
Vợ nhặt của Kim Lân

Tham khảo
^ a ă â b c d 70 năm nạn đói lịch sử năm Ất Dậu: Hơn 2 triệu người chết chỉ trong nửa năm, Báo Lao động, 12/01/2015
^ Hoàng Trọng Miên, Đệ Nhất Phu Nhân - Tập 1 (Los Alamitos, CA: Việt Nam, 1989), tr 79-80.
^ Hoàng Co Thụy, Việt Sử Khảo Luận - Cuốn 4 (Paris: Nam Á, 2002), tr. 1970.
^ Bác sĩ Ngô Văn Quỹ: Đêm dài Nhật – Pháp bắn nhau – Nhà xuất bản Trẻ, 2001 ^ The Great Vietnamese Famine of 1944-45 Revisited 1944−45年ヴィエトナム大飢饉再訪 | The Asia-Pacific Journal The Asia-Pacific Journal: Japan Focus 14/7/2000
^ Dommen, Arthur J. tr 87
^ Dương Kiền. Việt Nam thế kỷ 20 biên niên sử. Falls Church, VA: Tiếng Quê Hương, 2005. tr 46
^ a ă http://tuanbaovannghetphcm.vn/thuc-chat-chinh-phu-tran-trong-kim-va-long-yeu-nuoc-cua-ong-thu-tuong/
^ Quốc Việt (27 tháng 12 năm 2015). “Bao cuộc bể dâu bi thảm, chỉ có người dân là khốn khổ”. Tuổi Trẻ Online. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2020.
^ Nạn đói lịch sử năm Ất Dậu - VnExpress Hoàng Phương 12/1/2015 | 10:10 GMT+7
^ Phong trào "Phá kho thóc cứu đói" dưới góc nhìn lịch sử, Ngô Quang Chính, Báo Đại Đoàn Kết, 24/08/2011
^ David G. Marr. Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực]. Berkeley, CA: University of California Press, 1995. Thiếu số trang
^ Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài "Từ Ất Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005", đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000. tr. 173
Dommen, Arthur J. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001. doi:10.1353/jmh.2003.0153
David G. Marr, Vietnam 1945, The Quest for Power [Việt Nam 1945, đi tìm quyền lực], University of California Press, Berkeley, 1995
Ngô Thế Vinh dịch và trích dẫn trong bài "Từ At Dậu – 1945 sáu mươi năm đi tới cây cầu Cần Thơ – 2005", đăng trên tạp chí Hợp Lưu, California, số 51, tháng 2 & 3 năm 2000
Phóng sự "Nạn đói năm Ất Dậu" nhiều kỳ trên báo Tuổi trẻ, Kỳ 1: Kỳ 1: Thảm cảnh quê nhà (Quang Thiện, 01/03/2005 04:13 GMT+7); Kỳ 2: Dưới đáy của địa ngục (Quang Thiện, 02/03/2005 06:37 GMT+7); Kỳ 3: Hành trình của những hồn ma (Quang Thiện, 03/03/2005 06:27 GMT+7); Kỳ 4: Chặng cuối của cuộc đọa đày (Quang Thiện, 04/03/2005 06:53 GMT+7); Kỳ 5: Sống qua cơn đói (GS. Phong Lê, 05/03/2005 06:43 GMT+7), Kỳ cuối: Chống giặc đói (GS. Đặng Phong 07/03/2005 06:27 GMT+7)
Phong trào phá kho thóc cứu đói tại Từ điển bách khoa Việt Nam

HÌNH ẢNH
Xác người chết đói trên đường phố Hà Nội tháng 9/1945


Tình nguyện viên dồn xác chết lại chờ chôn


Dân Nam Định, Thái Bình, Phủ Lý, Hải Phòng, Hải Dương kéo nhau về Hà Nội


Mấy cậu bé ở Phủ Lý, Hà Nam


Chết đói bên ghế đá


Các cậu bé chờ chết


Người dân chặn đường giành lại thóc trên đường Hà Nội - Hà Đông, bị lính Nhật đánh đập dã man


Xương sọ những người chết đói 1945 xếp trong nghĩa trang Hợp Thiện

Sky+ (Từ Internet_Sao Star)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Những người bạn

 
Support : Creating Website | SkyskyskyTemplate | DoThanh Template
Proudly powered by Blogger
Copyright © 2011. Đỗ Vĩnh Trung - All Rights Reserved
Template Design by Creating Website Published by SkyDoThanh Template