.png)
Đang ngồi chờ khám bệnh, cụ ông N.Đ.T. (74 tuổi, ngụ tại Bình Dương) bất ngờ lăn ra "chết" và được các bác sĩ cấp cứu kịp thời - Ảnh: BVCC
Đang chờ khám bệnh, cụ ông bất ngờ gục 'chết' tại chỗ vì ngưng tim
Cụ ông 74 tuổi sau đó đã được các bác sĩ cấp cứu ngừng tuần hoàn tại chỗ và xoa bóp tim trong lúc đẩy băng ca đến phòng cấp cứu để tiếp tục hồi sức tim phổi.
Sáng 9.8, bác sĩ Lê Duy Lạc - Trưởng khoa Hồi sức tim mạch, Bệnh viện TP.Thủ Đức (TP.HCM) cho biết, bệnh viện vừa cấp cứu kịp thời, cứu sống một cụ ông bị ngưng tim, "chết” ngay tại hành lang chờ khám bệnh do nhồi máu cơ tim cấp.
Theo đó, bệnh nhân N.Đ.T. (74 tuổi, ngụ tại Bình Dương) vào Bệnh viện TP.Thủ Đức khám bệnh. Trong lúc ngồi ở hành lang chờ khám bệnh, ông T. lên cơn đau ngực trái, mất ý thức và gục xuống.
Nhận định ông T. rơi vào tình huống ngưng tim, ngưng thở, các bác sĩ nhanh chóng cấp cứu ngừng tuần hoàn tại chỗ. Sau khi đặt ông T. lên băng ca để đưa đến khoa Cấp cứu, ê kíp tiếp tục xoa bóp lồng ngực để hồi sức tim phổi.
Tại Khoa Cấp cứu, bệnh nhân được sốc điện phá rung tim 3 lần và hồi sức tim phổi hơn 10 phút để tim đập lại.
“Sau khi tim đập trở lại, bệnh nhân thở máy, huyết áp rất thấp phải dùng 2 thuốc vận mạch để duy trì huyết áp, đo điện tâm đồ xác định nguyên nhân ngưng tim là do nhồi máu cơ tim cấp độ 4 rất nguy kịch”, bác sĩ Lạc cho biết.

Bệnh nhân rơi vào tình trạng nguy kịch - Ảnh: BVCC
Theo bác sĩ Lạc, bệnh nhân tự đi khám bệnh, không có người thân đi cùng. Sau khi liên hệ, trao đổi và thống nhất với gia đình, bệnh nhân được chuyển lên phòng thông tim DSA chụp mạch vành, xác định bị tổn thương nặng cả 3 nhánh mạch vành, trong đó 1 nhánh bên phải tắc mạn tính 100%, 2 nhánh mạch vành bên trái hẹp 90% và 99%. Gần như quả tim đang sống nhờ dòng máu duy nhất từ mạch vành bên trái thì nay đã bị hẹp nặng gây giảm dòng chảy.
“Bệnh nhân được can thiệp 1 stent tái thông dòng chảy, toàn bộ quá trình nong tim kết thúc trong 30 phút để khôi phục dòng máu nuôi tim. Sau can thiệp, bệnh nhân được thở máy hồi sức, huyết áp dần phục hồi và ngưng vận mạch sau 12 giờ. Bệnh nhân tỉnh táo rút nội khí quản vào ngày hôm sau. Hiện tại, sức khỏe ông T. đã ổn định và được xuất viện, sinh hoạt bình thường”, bác sĩ Lạc chia sẻ.

Kết quả chụp DSA cho thấy, mạch vành bên trái của bệnh nhân hẹp đến 99% - Ảnh: BVCC
Được biết, bệnh nhân là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn, không bảo hiểm y tế nên đã được Ban Giám đốc bệnh viện hỗ trợ một phần viện phí và 1 đơn vị hỗ trợ 1 stent nhằm giúp bệnh nhân điều trị và hồi phục sức khỏe.
Chia sẻ sau khi vượt qua cửa tử, ông N.Đ.T gửi lời cảm ơn đến các y bác sĩ đã kịp thời cứu sống mình, cảm ơn lãnh đạo bệnh viện và mạnh thường quân đã hỗ trợ chi phí điều trị, giúp ông vượt qua giai đoạn khó khăn của cuộc sống.
Bác sĩ Lê Duy Lạc cho biết, nhồi máu cơ tim là một tình trạng cấp cứu cần tái lập dòng máu chảy trong đoạn động mạch vành bị tắc càng sớm càng tốt. Có nhiều phương pháp khôi phục dòng chảy động mạch vành tại Bệnh viện TP.Thủ Đức như: truyền thuốc tiêu sợi huyết, can thiệp mạch vành đặt stent (PCI) và mổ bắt cầu động mạch vành (CABG). Hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào thời gian điều trị, từ lúc khởi phát triệu chứng. Việc can thiệp động mạch vành đặt stent hiệu quả rõ rệt khi được tiến hành sớm, càng sớm càng tốt, đặc biệt trong vòng 24 giờ kể từ lúc khởi phát triệu chứng.
“Với trường hợp cứu sống bệnh nhân trên, sự thành công lớn nhất đến từ quy trình nhận diện và hồi sức tim phổi tại chỗ một cách nhanh chóng, hiệu quả ngay khi bệnh nhân ngưng tim để không ảnh hưởng làm tổn thương não”, bác sĩ Lạc cho biết. Nguồn: Đang chờ khám bệnh, cụ ông bất ngờ gục 'chết' tại chỗ vì ngưng tim
Động mạch vành tim: Cấu tạo, hoạt động và bệnh lý
Động mạch vành tim là hệ thống động mạch có cấu tạo đặc biệt và vai trò vô cùng quan trọng đối hoạt động của trái tim nói riêng và toàn cơ thể nói chung. Tuy nhiên đây cũng là bộ phận dễ gặp phải những tổn thương và bệnh lý do những biến đổi về cấu trúc, do lối sống thiếu lành mạnh. Cùng tìm hiểu về động mạch vành và các bệnh lý thường gặp trong bài viết sau đây.
1. Cấu tạo, chức năng của động mạch vành tim 1.1 Cấu tạo của động mạch vành Động mạch vành là hệ thống động mạch chạy trên bề mặt của tim, giữa cơ tim và ngoại tâm mạc, gồm 2 động mạch chính là động mạch vành trái và động mạch vành phải. 2 nhánh mạch vành này cùng xuất phát ở gốc động mạch chủ qua trung gian là các xoang Valsalva.
Động mạch vành trái sau khi chạy một đoạn khoảng 1 – 3 cm giữa động mạch phổi và nhĩ trái thì chia ra thành 2 nhánh gồm: động mạch liên thất trước và động mạch mũ. Một số trường hợp động mạch vành trái chia 3 nhánh thay vì chia 2.
Trong khi đó, động mạch vành phải có nguyên ủy từ xoang Valsalva trước phải và xoang Valsalva phải, chạy trong rãnh nhĩ thất phải.
Như vậy, hệ thống động mạch vành gồm ba nhánh lớn là động mạch liên thất trước, động mạch mũ và động mạch vành phải. Từ ba nhánh lớn này, quá trình phân chia sẽ tiếp tục để tạo ra nhiều nhánh động mạch nhỏ hơn.

Động mạch vành là hệ thống động mạch nằm trên bề mặt quả tim, có chức năng đưa máu đến nuôi dưỡng cơ tim.
1.2 Chức năng của động mạch vành tim
Theo giải phẫu học, tim là khối cơ rỗng, trung tâm đảm bảo chức năng bơm máu của hệ tuần hoàn. Để thực hiện được chức năng này thì cơ tim – lớp trung gian dày giữa màng ngoài tim và màng trong tim – luôn cần được cung cấp đủ máu, oxy và các dưỡng chất để co giãn, tạo lực co bóp nhằm bơm máu đến các cơ quan trong cơ thể. Và động mạch vành chính là hệ thống động mạch duy nhất thực hiện nhiệm vụ đưa máu đến nuôi cơ tim.
Các nghiên cứu cho thấy khả năng cung cấp máu của từng loại động mạch vành như sau:
– Động mạch vành phải cấp máu cho thất phải và 25 – 35% thất trái
– Động mạch liên thất trước cấp máu cho 45 – 55% thất trái
– Động mạch mũ cấp máu cho 15 – 25% thất trái.
Tuần hoàn vành không có vòng nối, tuy nhiên vẫn có các vòng nối giữa các nhánh của một thân hoặc giữa hai thân động mạch vành, được gọi là tuần hoàn bàng hệ của động mạch vành. Khi tuần hoàn vành hoạt động bình thường thì các vòng nối không mở. Nhưng khi có hẹp hoặc tắc một nhánh hoặc một thân của động mạch vành thì hệ này mở ra nhằm tưới máu cho vùng cơ tim bị thiếu máu tương ứng. 2. Các bệnh lý liên quan đến động mạch vành thường gặp
2.1 Bệnh mạch vành – Bệnh lý phổ biến nhất ở mạch vành
Đây là tình trạng lòng động mạch vành bị thu hẹp, khiến dòng máu đi tới cơ tim lưu chuyển khó khăn và giảm sút. Cơ tim không nhận đủ oxy và dưỡng chất khiến người bệnh xuất hiện triệu chứng như:
– Đau tức ngực, lưng, cổ, cánh tay và bụng
– Bị hụt hơi khi đang tập thể dục
– Khó thở
– Nôn ói, ợ chua, ợ hơi và các vấn đề tiêu hóa khác
– Đổ mồ hôi, ớn lạnh
– Hồi hộp, tim đập nhanh hoặc không đều nhịp
– Chóng mặt, choáng váng

Bệnh mạch vành là căn bệnh phổ biến nhất ở động mạch vành tim.
Có 3 nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh động mạch vành là:
– Do các mảng xơ vữa mạch vành
Các mảng xơ vữa hình thành từ cholesterol, canxi và các chất dễ lắng đọng khác trong máu là nguyên nhân chính khiến thiết diện lòng mạch ngày càng thu hẹp. Các mảng xơ vữa cứng làm giảm khả năng đàn hồi của thành mạch, cản trở đường đi của máu qua mạch vành, gây tình trạng thiếu máu cơ tim. Trong khi đó, các mảng xơ vữa mềm dễ vỡ ra, kích thích sự hình thành cục máu đông. Khi các cục máu đông di chuyển vào các vị trí nghẽn hẹp dễ gây tắc mạch, ngăn hoàn toàn dòng máu đến nuôi cơ tim, khiến cơ tim hoại tử.
– Do co thắt mạch vành
Co thắt mạch vành là tình trạng tắc nghẽn thoáng qua của động mạch vành liên quan đến rối loạn chức năng lớp nội mạc. Tình trạng này khiến lưu lượng máu về nuôi dưỡng cơ tim bị giảm đi nhanh chóng. Hậu quả gây ra thường là thiếu máu cơ tim cục bộ. Tất cả các nhánh động mạch vành đều có thể bị co thắt. Thường gặp nhất là hẹp nhánh động mạch liên thất trước, hẹp động mạch mũ và hẹp nhánh liên thất sau.
– Do bóc tách động mạch vành
Bóc tách động mạch vành là tình trạng mạch vành đột nhiên bị rách, khiến máu chảy vào các vết rách này thay vì theo dòng chảy bình thường trong lòng mạch. Điều này gây giảm lượng máu đến cơ tim, dẫn đến cơn đau tim, nhịp tim bất thường hoặc tử vong đột ngột.
2.2 Phình, giãn động mạch vành tim
Theo các bác cáo y học, phình động mạch vành là tình trạng giãn đoạn động mạch vành khu trú ít nhất 1,5 lần so với đoạn bình thường kế cận. Trong khi đó, giãn phình động mạch vành là hiện tượng giãn lan toả ít nhất 1,5 lần so với đoạn bình thường kế cận.
Phình, giãn động mạch vành chiếm 0,3% đến 5% các trường hợp chụp mạch vành, thường xảy ra ở nam. Bệnh thường gặp nhất ở động mạch vành phải (40,4%), động mạch liên thất trước (32,3%), động mạch mũ (23,4%), ít gặp ở đoạn thân chung (3,5%).
Nguyên nhân gây bệnh là do xơ vữa động mạch (50%), bẩm sinh (17%), nhiễm trùng (10%). Ngoài ra, các nguyên nhân khác gồm: bệnh viêm động mạch, can thiệp mạch vành, bệnh mô liên kết, khiếm khuyết collagen di truyền, nhiễm nấm, chấn thương, cường aldosterol nguyên phát…
2.3 Các bệnh lý do động mạch vành suy yếu
– Suy tim
Tình trạng thiếu máu cơ tim kéo dài khiến tim thường xuyên không được cung cấp đủ máu và trở nên suy yếu. Sau cơn nhồi máu cơ tim do hoại tử, người bệnh cũng rất dễ bị suy tim với các biểu hiện như thường xuyên ho, khó thở, mệt mỏi.

Khi thấy các dấu hiệu đau ngực, khó thở, cần đi khám ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
– Rối loạn nhịp tim
Đây là biến chứng nguy hiểm của bệnh mạch vành. Tim co bóp không bình thường có thể khiến tim đập quá chậm, quá nhanh hoặc hỗn loạn. Bệnh nhân có thể phải đối mặt với nguy cơ đột tử do hệ thống điện tim bị rối loạn.
Như vậy, có thể thấy sức khỏe của hệ thống động mạch vành tim chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố. Để phòng tránh các bệnh lý thường xảy ra ở động mạch vành, bạn cần điều chỉnh lối sống, chủ động theo dõi sức khỏe của mình và đi khám ngay khi có các dấu hiệu bất thường.
Nguồn: Động mạch vành tim: Cấu tạo, hoạt động và bệnh lý






























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn