
GSTS. Hồ Ngọc Đại.
GSTS. Hồ Ngọc Đại: "Kỳ 1 của lớp GS Ngô Bảo Châu không học chữ mà chỉ học hình vuông, tròn"
Bài đăng kỳ trước: Tiếng Việt công nghệ giáo dục: Từ nhầm lẫn đến trào lưu 'tròn, vuông, tam giác'
Video 1: GS Ngô Bảo Châu đã từng học CNGD

GS Hồ Ngọc Đại cho rằng, cuốn sách ông dành tâm huyết, công phu nhất là Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục và ông không chấp, để ý những người phê phán.
Cuốn sách tâm huyết và công phu nhất là Tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục
Sáng 8/9, tại Hà Nội, Giáo sư Hồ Ngọc Đại, "cha đẻ" của cuốn sách Tiếng Việt lơp 1 - Công nghệ giáo dục với cách đánh vần lạ, “ô vuông, hình tròn” đã có buổi trao đổi về chuyên đề Công nghệ giáo dục trong kỉ nguyên 4.0.
Mở đầu buổi nói chuyện, GS Hồ Ngọc Đại đã dành hơn 30 phút kể về khoảng thời gian đi học tại Nga. (Video 3 đầy đủ ở phía dưới- mời các bạn xem)
Video 2: GS Hồ Ngọc Đại: trả lời những thắc mắc
Theo vị GS, tại đây ông đã thu thập được những kiến thức làm nền tảng cho Công nghệ giáo dục sau này mà ông đã dày công nghiên cứu.
Ông nêu rõ, sống và làm việc tại Nga trong thời gian đất nước còn khó khăn nên luôn nỗ lực hết mình để làm tốt công việc được giao.
"Tôi là người có ý thức trách nhiệm với đất nước, cái đó chính là sức mạnh của tôi. Tôi luôn áy náy khi đất nước chiến tranh mà mình lại đi học ở Nga, chính vì thế tôi luôn cố gắng học tập và nghiên cứu nghiêm túc.
Tôi vốn là giáo viên Toán, khi tôi học, tôi học rất thật, nhờ những năm tôi ở Nga đã cho những bài học tôi hoàn toàn tự tin để xử lý những vấn đề giáo dục. Cả đời tôi gắn vào giáo dục và thực sự chắc chắn về những gì đã làm", ông nêu rõ.

GS Hồ Ngọc Đại: "Tôi là người có ý thức xây dựng lý thuyết về giáo dục...".
Chia sẻ về công nghệ giáo dục, GS Hồ Ngọc Đại cho hay, ông làm giáo dục và bắt đầu xây dựng từ nhỏ đến lớn.
"Tôi là người có ý thức xây dựng lý thuyết về giáo dục. Tôi có bộ sách viết về giáo dục nhất quán từ đầu đến cuối.
Năm 1968 khi sang Liên Xô chứng kiến cuộc nổi loạn của sinh viên, những đổi mới thất bại trong giáo dục. Tôi cho rằng những cái cũ kỹ trong giáo dục chắn chắn thất bại. Một nền giáo dục mới sẽ thành công.
Nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục chưa từng có, để cho mỗi cá nhân trong xã hội trở thành chính nó, chứ không phải là bản sao của riêng ai", GS Đại nói.
Video 3: GSTS. Hồ Ngọc Đại kể về những năm tháng nghiên cứu khoa học tại Liên Xô
Ông cho rằng, khi 100% dân cư đi học thì ngôn ngữ đó phải là ngôn ngữ hàng ngày, chứ không phải chỉ ngôn ngữ sách vở. Tức là người học phải nghe, nói được ngôn ngữ hàng ngày và viết được cách khác.
“Nguyên tắc sư phạm của tôi là học sinh tự làm nên mọi việc, tức là thầy giao việc, trò làm việc. Khi trò làm việc thì thầy theo dõi...
Phải dùng những cái tích cực trong cuộc sống để dạy trẻ con, tôi đưa nhiều chuyện vui vào bộ tài liệu để dạy học sinh", GS Hồ Ngọc Đại chia sẻ.
"Tôi là Tiến sĩ khoa học về trẻ em, tại sao mọi người lại nói tôi không biết gì về trẻ em? Cái gì tôi viết là vì đất nước, vì tương lai. Học sinh của tôi học có 2 cái quan trọng nhất là vật thật và vật thay thế, vật thật là tiếng nói, âm nghe. Chữ chỉ là vật thay thế", GS Đại nêu.
Cũng theo vị GS, cuốn sách ông dành tâm huyết và công phu nhất là tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục. Trẻ con rất hồn nhiên và tin người lớn, lớp 1 phải đưa những thứ tốt đẹp vào đó.
Ông bày tỏ thêm, mỗi một thời điểm của đời người là duy nhất, anh mất là mất tuyệt đối. Cho nên, đời ông phải làm cho đời người không mất 1 giây nào.
"Tất cả chương trình của tôi không bao giờ ôn tập (lập lại thời gian), phải tận dụng từng giây phút của học sinh. Tôi là người cuối cùng viết lại cuốn Tiếng Việt, để chịu trách nhiệm tôi ký tên tôi.
Anh mở trang 24 là tôi biết được 23 trang trước đứa trẻ đó học thế nào, tôi mở trang 124 thì tôi biết 123 trang trước nó học thế nào. Chính vì vậy, học sinh học chữ của tôi là chắc chắn không thể tái mù.
Một lý thuyết giáo dục phải có công nghệ thực thi. Tôi có công nghệ giáo dục. Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam, trẻ con 6 tuổi nói sõi, 7 tuổi nói đúng, 8 tuổi nói chuẩn…
Nhưng khi tôi dạy trẻ con học hết lớp 1, dù ở bất cứ đâu trên đất nước này, chỉ 1 năm đọc thông viết thạo, đúng chính tả và không thể tái mù.
Một ông Bí thư xã nói với tôi rằng, chỉ mất 5 tháng học Tiếng Việt của tôi là có thể viết được đơn, còn cách dạy cũ học hết năm lớp 1 cũng không làm được", GS Đại nói thêm. Vị GS chia sẻ, ông có cái may rất lớn là dùng những thứ đã có và không sáng kiến ra.
"Ví dụ tiếng Việt lớp 1 là thành tựu 300 năm nghiên cứu ngữ âm tiếng Việt, tổng kết lại làm giáo trình cho sinh viên năm thứ 3 năm 1977 và đến 1978, tôi đưa vào lớp 1 với khóa đầu tiên của GS Ngô Bảo Châu.
Học kỳ 1 của lớp GS Châu không học chữ mà chỉ học hình vuông, hình tròn, hình tam giác", ông kể và nhấn mạnh thêm, người ta chửi về chữ ô vuông, phê phán nhưng ông không có để ý và cũng không chấp.
Sứ mệnh giáo dục là tạo ra cái mới chưa hề có
Nêu lại lý do ra đời của trường Thực nghiệm, GS Hồ Ngọc Đại cho rằng, việc này xuất phát từ một lần trò chuyện với cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng về cuộc cải cách giáo dục. Theo ông, ngày đó, ông góp ý vào cuộc cải cách và dự đoán nó sẽ thất bại khi được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi.

GS Hồ Ngọc Đại đứng giữa trao đổi với người tham dự.
"Lý do thứ nhất là đề cương cải cách giáo dục thực hiện trong 20 năm chiến tranh, khi thực hiện đã qua thời kỳ đó rồi, nếu vẫn dùng nó thì sẽ thất bại. Thứ hai, cuộc cải cách phải ưu tiên cho những người đã bỏ ngang học tập để vào chiến trường.
Sau đó, tôi có nhận được đề nghị của Thủ tướng ở nhiều cương vị quan trọng nhưng tôi xin dạy lớp 1, với điều kiện cho tôi mở trường Thực nghiệm. Khi tôi mở trường, nhiều người nói làm như thế là phí nhưng tôi tin với việc tôi làm, không có nhiều người giỏi hơn mình", ông nhấn mạnh.
Ông nêu rõ, trong quan niệm về người thầy giáo lý tưởng hiện nay là phải thay đổi lại cơ bản nền giáo dục, cả nội dung, phương pháp, tổ chức.
"Thế kỷ 21, một thế hệ chưa từng có trong lịch sử phải có một hệ thống giáo dục chưa từng có trong lịch sử! Phải đổi mới giáo dục! Bỏ chấm điểm để các cháu phát huy thế mạnh, năng khiếu, nó yếu cái nọ nhưng nó mạnh cái kia", GS chia sẻ.
GS Hồ Ngọc Đại cho rằng, trẻ con không bao giờ làm điều vô lý và cha mẹ nên căn cứ vào cái lý của trẻ để dạy trẻ, "phải chịu thua" trẻ.
"Người lớn không nên lấy mình làm khuôn mẫu cho trẻ con, để trẻ được sống hồn nhiên, như nó cần được sống.
Tôi biết không tự làm ra sẽ không có cái để nói nên việc tôi mở trường Thực ghiệm là hành vi trách nhiệm nhất với đất nước. Tôi lấy tư tưởng cá nhân làm cơ bản nên thường bị phản ứng.
Chúng ta cứ thích quyền lực, áp bức người khác nên khi có thế hệ mới, lịch sử mới cũng cần có nền giáo dục mới.
Sứ mệnh giáo dục là tạo ra cái mới chưa hề có, không bác bỏ quá khứ, tận dụng quá khứ nhưng nên được hưởng những cái mới, thành tựu mới", ông nhấn mạnh thêm.
Trước khi kết thúc buổi nói chuyện, GS Hồ Ngọc Đại bày tỏ, ngữ âm và tiếng nói là khác nhau, học sinh của ông không để ý đến nghĩa mà chỉ đến âm. Khi chứa nghĩa là từ, nhưng nếu chứa nghĩa là thành tiếng.
"Tôi lắng nghe những đóng góp có ích cho việc của tôi để điều chỉnh. Tương lai của Công nghệ giáo dục là vĩnh viễn", ông tin tưởng.
GS Ngô Bảo Châu chia sẻ trải nghiệm học đánh vần "lạ" theo Công nghệ Giáo dục

Trước những ồn ào tranh cãi về cách đánh vần “lạ” theo sách Công nghệ Giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại, GS Ngô Bảo Châu - cựu học sinh trường Thực nghiệm (Hà Nội) - đã bày tỏ quan điểm của mình.
Ngày 30.8, trên trang Facebook cá nhân, GS Ngô Bảo Châu bày tỏ: “Xuất phát từ trải nghiệm cá nhân, tôi đảm bảo học theo phương pháp của thầy Đại vẫn biết đánh vần như thường. Tuy nhiên, đôi khi có thể viết sai chính tả (chưa chắc đã do lỗi của phương pháp)”.

Sách Tiếng Việt 1 - Công nghệ Giáo dục
Ý kiến của GS Ngô Bảo Châu về phương án đánh vần “lạ” theo sách Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại được nhiều người quan tâm, vì GS Ngô Bảo Châu nguyên là học sinh bậc Tiểu học tại trường Thực nghiệm Hà Nội do GS Hồ Ngọc Đại sáng lập.
Trong cuốn sách Tiếng Việt 1 - Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại, phương án đánh vần có nhiều khác biệt so với cách đánh vần đã quen thuộc, cụ thể là các chữ cái "K", "Q", "C" trong các tổ hợp vần đều đọc là "Cờ".
Cách đánh vần như trên dẫn đến lo ngại có thể học sinh sẽ viết sai chính tả (vì các em viết theo thói quen, đọc sao viết vậy).
Trong ý kiến của GS Ngô Bảo Châu, có nội dung nghi ngại về hệ lụy của lối đánh vần “lạ” theo Công nghệ Giáo dục, là có thể dẫn đến viết sai chính tả.
Theo GS. Nguyễn Văn Lợi - nguyên Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, việc dùng các khái niệm ngữ âm học dạy trẻ em đánh vần như sách "Công nghệ giáo dục" đẻ ra rất nhiều bất cập.
Trước hết, bất cập ngay trong hệ thống khái niệm, thuật ngữ của cách dạy đánh vần theo CNGD.
GS Lợi cho rằng cách dạy đánh vần như trên làm khó học sinh.
Trước đó, vào ngày 23.10.2017, trong văn bản thông báo kết quả đánh giá tài liệu “Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục” đến đại biểu quốc hội, Bộ GDĐT cho biết, bên cạnh những ưu điểm, tài liệu nói trên có hạn chế như sau:
Mục tiêu giúp học sinh phát triển kỹ năng nói và nghe chưa được thể hiện trong tài liệu. Các hướng dẫn, hoạt động giúp học sinh đọc hiểu bài đọc như tìm hiểu nghĩa của từ, nội dung của câu và đoạn văn, trả lời câu hỏi đọc hiểu chưa được chú trọng. Vì vậy học sinh có thể đọc thành tiếng văn bản nhưng không hiểu nghĩa.
Tài liệu cũng chưa đáp ứng tốt mục tiêu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, hạn chế này thể hiện rõ nhất qua phần ngữ liệu...
GSTS Hồ Ngọc Đại giải thích
Sáng 8/9, tại Hà Nội, GS. Hồ Ngọc Đại, “cha đẻ” của chương trình Công nghệ giáo dục (CNGD) với cách đánh vần lạ, “ô vuông, hình tròn” thuyết trình với chuyên đề Công nghệ giáo dục trong kỉ nguyên 4.0.
Trong thời gian vừa qua, báo chí và mạng xã hội dấy lên câu chuyện liên quan về cuốn sách Tiếng Việt 1- Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại đang được dạy tại 43 sở GD&ĐT trên cả nước. Xung quanh những ồn ào đó, sáng nay (8/9) "cha đẻ" của bộ tài liệu này có buổi trò chuyện để rộng đường dư luận.
11h30: Công nghệ giáo dục sẽ tồn tại vĩnh viễn?
GS Đại cho hay, ngữ âm và tiếng nói là khác nhau, học sinh của ông không để ý đến nghĩa mà chỉ đến âm. Khi chứa nghĩa là từ, nhưng nếu chứa nghĩa là thành tiếng. "Tôi lắng nghe những đóng góp có ích cho việc của tôi để điều chỉnh. Tương lai của Công nghệ giáo dục là vĩnh viễn", ông tin tưởng. Buổi trò chuyện kết thúc.
11h00: Những cái tôi làm là vì đất nước, vì trẻ em
GS Hồ Ngọc Đại cho rằng, khi 100% dân cư đi học, thì ngôn ngữ ấy phải là ngôn ngữ hàng ngày, chứ không phải ngôn ngữ sách vở và viết được ngôn ngữ đọc đúng nó. Học sinh tự làm nên mọi việc, thầy giao việc, trò làm việc. Khi trò làm việc trò theo dõi.
Phải dùng những cái tích cực trong cuộc sống để dạy trẻ con, tôi đưa nhiều chuyện vui vào bộ tài liệu để dạy học sinh. "Tôi là Tiến sĩ khoa học về trẻ em, tại sao mọi người lại nói tôi không biết gì về trẻ em? Cái gì tôi viết là vì đất nước, vì tương lai. Học sinh của tôi học có 2 cái quan trọng nhất là vật thật và vật thay thấy, vật thật là tiếng nói, âm nghe. Chữ chỉ là vật thay thế", GS nói.
Cũng theo vị GS, cuốn sách ông dành tâm huyết và công phu nhất là tiếng Việt 1 – Công nghệ giáo dục. Trẻ con rất hồn nhiên và tin người lớn, lớp 1 phải đưa những thứ tốt đẹp vào đó.
10h45: Học chữ của tôi là chắc chắn không thể tái mù
GS Hồ Ngọc Đại nói: "Mỗi một thời điểm của đời người là duy nhất, anh mất là mất tuyệt đối. Cho nên, đời tôi phải làm cho đời người không mất 1 giây nào. Tất cả chương trình của tôi không bao giờ ôn tập (lập lại thời gian), phải tận dụng từng giây phút của học sinh. Tôi là người cuối cùng viết lại cuốn Tiếng Việt, để chịu trách nhiệm tôi ký tên tôi. Anh mở trang 24 là tôi biết được 23 trang trước đứa trẻ đó học thế nào, tôi mở trang 124 thì tôi biết 123 trang trước nó học thế nào. Chính vì vậy, học sinh học chữ của tôi là chắc chắn không thể tái mù.
Một lý thuyết giáo dục phải có công nghệ thực thi. Tôi có công nghệ giáo dục. Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam, trẻ con 6 tuổi nói sõi, 7 tuổi nói đúng, 8 tuổi nói chuẩn… Nhưng khi tôi dạy trẻ con học hết lớp 1, dù ở bất cứ đâu trên đất nước này, chỉ 1 năm đọc thông viết thạo, đúng chính tả và không thể tái mù.
Một ông Bí thư xã nói với tôi rằng, chỉ mất 5 tháng học Tiếng Việt của tôi là có thể viết được đơn, còn cách dạy cũ học hết năm lớp 1 cũng không làm được".
10h40: Công nghệ giáo dục đã tồn tại 40 năm
Trong tất cả những phát minh của nhân loại, tôi đánh giá cao nhất là xe đạp. Hàng triệu năm đi bộ, đến cuối thế kỷ 19 mới có xe đạp. Nó chấm dứt hàng triệu năm phụ thuộc vào cách đi cũ, để đổi bằng cách đi mới. Sau đó nó như 1 bàn đạp để thay đổi, xe máy, ô tô, máy bay được sinh ra ngay sau đó. Công nghệ giáo dục đã tồn tại 40 năm nay, có nhiều người nói về nó nhưng có thay đổi được đâu?
10h35: Người lớn không được phép lấy mình làm chuẩn cho trẻ con
Bàn về cách xây dựng nền giáo dục mới, vị GS nêu sứ mạng của giáo dục: "Cần phải cho trẻ em được những thành tựu mới nhất - chưa từng có và thừa hưởng và tận dụng những thành tựu đã có".
"Cho nên tôi luôn nói với các cô giáo của tôi và nhiều bậc phụ huynh là phải thua con mới dạy được con. Trẻ con làm gì cũng có lý của nó. Mình phải căn cứ vào lý của nó để có cách dạy hợp lý", ông nói.
"Cuộc đời tôi xong rồi, nhưng tôi muốn đất nước này có một thế hệ khác, tự xác định được thời đại của mình. Người lớn không nên lấy mình là khuôn mẫu cho trẻ con. Bố mẹ không nên lấy mình làm chuẩn cho trẻ con", giáo sư bày tỏ.
Đồng thời ông cũng khẳng định việc xây dựng trường Thực nghiệm là việc làm có ý nghĩa và trách nhiệm nhất mà ông đã làm cho đất nước.
10h30: Nền giáo dục mới sẽ thành công
Chia sẻ về công nghệ giáo dục, GS Hồ Ngọc Đại khẳng định: "Tôi làm giáo dục và bắt đầu xây dựng từ nhỏ đến lớn. Tôi là người có ý thức xây dựng lý thuyết về giáo dục. Tôi có bộ sách viết về giáo dục nhất quán từ đầu đến cuối. Năm 1968 khi sang Liên Xô chứng kiến cuộc nổi loạn của sinh viên, những đổi mới thất bại trong giáo dục. Tôi cho rằng những cái cũ kỹ trong giáo dục chắn chắn thất bại. Một nền giáo dục mới sẽ thành công.
Nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục chưa từng có, để cho mỗi cá nhân trong xã hội trở thành chính nó, chứ không phải là bản sao của riêng ai".

Buổi trao đổi của GS Hồ Ngọc Đại nhận được sự quan tâm của đông đảo nhà báo, phóng viên.
10h20: Lý do ra đời trường Thực nghiệm
Ông Đại kể về kỷ niệm trong lần trò chuyện với nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng về cuộc cải cách giáo dục: “Ngày đó tôi góp ý vào cuộc cải cách, tôi dự đoán nó sẽ thất bại khi được Thủ tướng hỏi về nó. Lý do thứ nhất là đề cương cải cách giáo dục thực hiện trong 20 năm chiến tranh, khi thực hiện đã qua thời kỳ đó rồi, nếu vẫn dùng nó thì sẽ thất bại. Thứ hai, cuộc cải cách phải ưu tiên cho những người đã bỏ ngang học tập để vào chiến trường”.
“Sau đó, tôi có nhận được đề nghị của Thủ tướng ở nhiều cương vị quan trọng nhưng tôi xin dạy lớp 1, với điều kiện cho tôi mở trường Thực nghiệm. Sau đó tôi mở trường, nhiều người nói tôi làm như thế là “phí”. Nhưng tôi tin với việc tôi làm, thì không có nhiều người giỏi hơn mình”.

GS Hồ Ngọc Đại: "Tôi tin với việc tôi làm"
10h10: Khi làm việc, nghiên cứu không ngại những thất bại
Sau khoảng thời gian nói về nền tảng triết học và tâm lý học, GS Hồ Ngọc Đại cho rằng giáo dục là đời sống xã hội và khi làm việc, nghiên cứu cần không ngại thất bại.
"Tôi làm giáo dục tức là tôi tác động đến cuộc sống của người khác, và tôi có trách nhiệm với nó", ông khẳng định.
9h50: Ý thức trách nhiệm với đất nước là trên hết
GS Hồ Ngọc Đại dành hơn 30 phút kể về khoảng thời gian đi học tại Nga. Tại đây ông đã thu thập được những kiến thức làm nền tảng cho công nghệ giáo dục mà ông đã dày công nghiên cứu.
Ông cho biết: "Tôi vốn là giáo viên Toán, khi tôi học tôi học rất thật, nhờ những năm tôi ở Nga đã cho những bài học tôi hoàn toàn tự tin để xử lý những vấn đề giáo dục. Cả đời tôi gắn vào giáo dục, nhưng tôi thực sự chắc chắn về những gì đã làm".
Sống và làm việc tại Nga trong thời gian đất nước còn khó khăn, GS Ngọc Đại luôn nỗ lực hết mình để làm tốt công việc được giao. Ông khẳng định: "Tôi là người có ý thức trách nhiệm với đất nước, cái đó chính là sức mạnh của tôi. Tôi luôn áy náy khi đất nước chiến tranh mà mình lại đi học ở Nga, chính vì thế tôi luôn cố gắng học tập và nghiên cứu nghiêm túc”.

GS. Hồ Ngọc Đại chia sẻ về Công nghệ giáo dục đang gây tranh cãi.
9h10: Chỉ có thể thay đổi cả nội dung và phương pháp mới có thể tránh những thất bại
"Những năm 1960 của giáo dục thế giới đã có những thất bại. Tôi nghiên cứu về nó và cho rằng có 2 nguyên nhân dẫn đến thất bại của giáo dục. Thứ nhất, là những người chỉ chú trọng vào phương pháp. Thứ hai, những người chỉ thay đổi nội dung hoặc phương pháp trong giảng dạy. Nhưng tôi cho rằng, chỉ có thể thay đổi cả nội dung và phương pháp mới có thể tránh những thất bại", giáo sư Hồ Ngọc Đại chia sẻ.
9h: Các bạn dự có một tiết, tôi chịu trách nhiệm cả đời học sinh
Bắt đầu buổi hội thảo, GS. Đại kể lại một câu chuyện từ ngày ông còn là một giáo viên dạy Toán. "Trong một tiết học có người dự giờ, tôi đã bỏ giáo án đề dạy bởi tôi thấy có những bất cập khi dạy mà dựa quá nhiều vào giáo án. Sau đó có 2 luồng dư luận, một bảo tôi vô kỷ luận khi bỏ giáo án, luồng còn lại là lắng nghe ông Đại xem cái lý của ông ấy là gì. Các bạn dự có một tiết, nhưng tôi chịu trách nhiệm tới cả một đời học sinh", GS Đại nói.
GS Hồ Ngọc Đại lên tiếng về chương trình Công nghệ giáo dục
GS Hồ Ngọc Đại, "cha đẻ" của chương trình Công nghệ giáo dục, sáng nay 8-9 đã có những chia sẻ về công nghệ giáo dục đang dẫn tới những luồng ý kiến khác nhau trong dư luận.
GS Hồ Ngọc Đại, "cha đẻ" của chương trình Công nghệ giáo dục (CNGD), sáng 8-9 đã có cuộc trò chuyện diễn ra tại Hà Nội về CNGD trong kỷ nguyên 4.0.

GS Hồ Ngọc Đại nói về chương trình CNGD
Bàn về nền giáo dục mới, GS Hồ Ngọc Đại cho rằng sứ mạng của giáo dục là cần phải cho trẻ em được những thành tựu mới nhất - chưa từng có và thừa hưởng và tận dụng những thành tựu đã có. "Cho nên tôi luôn nói với các cô giáo của tôi và nhiều bậc phụ huynh là phải thua con mới dạy được con. Trẻ con làm gì cũng có lý của nó. Mình phải căn cứ vào lý của nó để có cách dạy hợp lý"- ông nói.
"Cuộc đời tôi xong rồi, nhưng tôi muốn đất nước này có một thế hệ khác, tự xác định được thời đại của mình. Người lớn không nên lấy mình là khuôn mẫu cho trẻ con. Bố mẹ không nên lấy mình làm chuẩn cho trẻ con"- giáo sư bày tỏ.
GS Đại cũng khẳng định việc xây dựng trường thực nghiệm là việc làm có ý nghĩa và trách nhiệm nhất mà ông đã làm cho đất nước. Cũng theo vị giáo sư, cuốn sách ông dành tâm huyết và công phu nhất là Tiếng Việt 1 - CNGD. Trẻ con rất hồn nhiên và tin người lớn, lớp 1 phải đưa những thứ tốt đẹp vào đó.
Chia sẻ về CNGD, GS Hồ Ngọc Đại khẳng định những cái cũ kỹ trong giáo dục chắc chắn thất bại. Một nền giáo dục mới sẽ thành công.
Nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục chưa từng có, để cho mỗi cá nhân trong xã hội trở thành chính nó, chứ không phải là bản sao của riêng ai. Ông cũng nhấn mạnh: "Cái gì tôi viết là vì đất nước, vì tương lai".
Nói thêm về chương trình CNGD, GS Đại khẳng định một lý thuyết giáo dục phải có công nghệ thực thi. "Tôi có CNGD. Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam, trẻ con 6 tuổi nói sõi, 7 tuổi nói đúng, 8 tuổi nói chuẩn… Nhưng khi tôi dạy trẻ con học hết lớp 1, dù ở bất cứ đâu trên đất nước này, chỉ 1 năm đọc thông viết thạo, đúng chính tả và không thể tái mù. Một ông bí thư xã nói với tôi rằng, chỉ mất 5 tháng học tiếng Việt của tôi là có thể viết được đơn, còn cách dạy cũ học hết năm lớp 1 cũng không làm được"- GS Đại cho biết.
Bộ GD-ĐT lần đầu lên tiếng về sách Công nghệ giáo dục
Ngày 8-9, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã chính thức nêu quan điểm về việc triển khai tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục.
Thay mặt Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT), TS Nguyễn Hữu Độ, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, cho biết tài liệu Tiếng Việt lớp 1 Công nghệ giáo dục (TV1- CNGD) là kết quả nghiên cứu từ năm 1978 của một số nhà khoa học, đứng đầu là GS-TSKH Hồ Ngọc Đại thông qua các đề tài nghiên cứu và được áp dụng vào dạy học ở Trường Thực nghiệm Giảng Võ, Hà Nội.
Căn cứ kết quả nghiên cứu và áp dụng thí điểm trong dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 1 tại trường thực nghiệm và một số cơ sở giáo dục, Bộ GD-ĐT đồng ý cho các địa phương có nhu cầu và đảm bảo các điều kiện được áp dụng vào việc dạy học Tiếng Việt lớp 1, nhất là ở những vùng khó từ năm học 2008-2009 đến năm học 2016-2017 trên tinh thần tự nguyện của các địa phương.
Cuối năm 2016, tiếp thu ý kiến của đại biểu quốc hội trong kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã giao cho Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (KHGD) nghiên cứu, khảo sát, đánh giá chất lượng, hiệu quả triển khai tài liệu TV1-CNGD và đề xuất các giải pháp chỉ đạo (GS-TS Trần Công Phong, Viện trưởng Viện KHGD Việt Nam, chủ trì).
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, khảo sát, Viện KHGD Việt Nam đã đánh giá việc triển khai tài liệu Tiếng Việt 1-CNGD ở các địa phương đạt được hiệu quả khả quan thông qua kết quả giáo dục học sinh, năng lực chuyên môn của giáo viên và đề xuất các giải pháp để tiếp tục sử dụng hiệu quả tài liệu TV1- CNGD. Trong báo cáo, Viện KHGD Việt Nam đề nghị Bộ GD-ĐT tổ chức hội đồng thẩm định tài liệu TV1-CNGD theo quy định và đề nghị các tác giả tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện tài liệu để đáp ứng nhu cầu của các địa phương.
Trong các năm 2017 và 2018, nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt lớp 1, cùng với việc rà soát, tinh giảm các nội dung chưa phù hợp với học sinh trong sách giáo khoa hiện hành, Bộ GD-ĐT đã tổ chức hội đồng thẩm định quốc gia tài liệu TV1- CNGD. Sau 2 vòng thẩm định, hội đồng thẩm định đã đánh giá: Tài liệu TV1- CNGD về cơ bản đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn kiến thức kỹ năng của môn Tiếng Việt lớp 1 trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học (theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5-5-2006 của Bộ GD-ĐT). Tài liệu TV1- CNGD đã được các tác giả chỉnh sửa, hoàn thiện theo kết luận của hội đồng thẩm định.
Căn cứ kết quả khảo sát, đánh giá của Viện KHGD Việt Nam và ý kiến kết luận của hội đồng thẩm định tài liệu TV1-CNGD, Bộ GD-ĐT hướng dẫn các sở GD-ĐT triển khai tài liệu TV1-CNGD phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện của nhà trường trong năm học 2017-2018 và năm học 2018-2019 ở những nơi đang triển khai và không mở rộng để giữ ổn định cho đến khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới.
Tài liệu TV1-CNGD là một trong những phương án để các địa phương lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, nhất là với học sinh vùng khó, vùng dân tộc thiểu số.
"Khi chương trình giáo dục phổ thông mới được ban hành, với chủ trương "một chương trình nhiều sách giáo khoa", tất cả các tài liệu dạy học được đưa vào nhà trường với tư cách là sách giáo khoa đều phải được hội đồng quốc gia thẩm định. Căn cứ vào kết luận và đề xuất của hội đồng thẩm định quốc gia, bộ trưởng Bộ GD-ĐT sẽ phê duyệt danh mục sách giáo khoa (theo chương trình giáo dục phổ thông mới) được phép sử dụng trong các cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đó, căn cứ vào các quy định, các cơ sở giáo dục được phép lựa chọn sách giáo khoa phù hợp"- TS Nguyễn Hữu Độ khẳng định.
Theo: Hạ Ngọc Tễ, Int, …






























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Những người bạn